Search
Close this search box.

SKKN Một số biện pháp giúp học sinh lớp 2 học tốt phân môn luyện từ và câu

4.5/5

Giá:

30.000 đ
Cấp học: Tiểu học
Môn: Tiếng việt
Lớp: 2
Bộ sách:
Lượt xem: 694
File:
TÀI LIỆU WORD
Số trang:
21
Lượt tải:

13

Sáng kiến kinh nghiệm “SKKN Một số biện pháp giúp học sinh lớp 2 học tốt phân môn luyện từ và câu” triển khai gồm các biện pháp nổi bật sau:

Giải pháp 1: Họp phụ huynh học sinh
Giải pháp 2: Chuẩn bị bài trước khi đến lớp
Giải pháp 3: Các bước thực hiện trên lớp
Giải pháp 4: Lựa chọn hình thức học tập thích hợp
Giải pháp 5: Tổ chức các hoạt động trên lớp
Giải pháp 6: Tổ chức cho học sinh trao đổi, nhận xét kết quả, rút ra những điểm mới ghi nhớ về tri thức
Giải pháp 7: Dạy kiến thức về từ và câu theo hướng tích hợp các phân môn Tiếng Việt và các môn học khác trong chương trình lớp 2.
Giải pháp 8: Thủ thuật lên lớp của giáo viên và công tác chủ nhiệm.

Mô tả sản phẩm

1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chon đề tài:
Dạy học Tiếng Việt trong trường Tiểu học nói chung và dạy phân môn Luyện từ và câu nói riêng là một vấn đề vô cùng quan trọng. Nhất là Luyện từ và câu là phân môn tổng hợp của môn Tiếng Việt ở bậc Tiểu học. Mục tiêu của cả người dạy và người học là “ hiểu và vận dụng ” trong mỗi tiết học Luyện từ và câu. Người giáo viên giúp cho các em có được vốn từ, hiểu biết sơ giản về từ và câu, kĩ năng dùng từ đặt câu và sử dụng các kiểu câu để thực hiện tư tưởng, tình cảm của mình. Song một thực tế mà chúng ta đều biết là hiện nay, trong các cấp học mà đặc biệt là bậc Tiểu học, phần lớn vốn từ của học sinh rất nghèo nàn, sử dụng từ để đặt câu còn vụng.
Chính vì thế, Luyện từ và câu được đưa vào nhà trường ngay từ bậc Tiểu học. Từ ngữ với các em là những gì gần gũi, thân quen với thế giới trẻ thơ, các em có thể hiểu được từ một cách dễ dàng, cụ thể như: Tên gọi của mỗi người, mỗi vật,… Với học sinh lớp 2, chủ yếu là các em có được vốn từ về trường học, gia đình, muông thú,… hiểu về từ chỉ sự vật, từ chỉ hoạt động,… Các kiểu câu.
Qua thực tế dạy phân môn Luyện từ và câu lớp 2, tôi nhận thấy vốn từ ngữ của học sinh còn rất hạn hẹp, học sinh chưa mạnh dạn trong việc nói trước tập thể, các bài tập trong sách giáo khoa nhiều, đa dạng và cấu  tạo tương đối khó với học sinh, học sinh gặp khó khăn trong việc hiểu nghĩa của từ, đặt câu chưa hay, chưa đúng so với yêu cầu, chưa phân biệt được nghĩa của từ. Đối với phụ huynh học sinh chưa có sự nhận thức đúng mức về tầm quan trọng của phân môn Luyện từ và câu. Bên cạnh đó một số phụ huynh chưa thực sự quan tâm đến con em mình, còn có quan điểm “ Trăm sự nhờ nhà trường, nhờ thầy cô” cũng làm ảnh hưởng đến chất lượng học tập của  môn học. Nên trong thực tế ở trường Tiểu học Xuân Dương việc giảng dạy phân môn Luyện từ và câu mất nhiều thời gian, học sinh tiếp thu kiến thức còn chậm. Một số ít giáo viên chưa thực sự đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy học, chưa có các biện pháp rèn luyện cụ thể cho các em. Vấn đề đặt ra là: Người giáo viên dạy Luyện từ và câu ra sao để đạt hiệu quả như mong muốn. Thấy được tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng dạy học phân môn Luyện từ và câu trong nhà trường là rất cần thiết. Sau khi được điều động về công tác ở trường Tiểu học Xuân Dương tôi băn khoăn, trăn trở và mong muốn được góp phần vào việc nâng cao chất lượng giáo dục của đơn vị. Chính vì những lí do trên, nên tôi chọn đề tài: “ Một số biện pháp giúp học sinh lớp 2B trường Tiểu học Xuân Dương – Thường Xuân  học tốt phân môn Luyện từ và câu .” là vấn đề nghiên cứu của mình.
1.2. Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu nội dung chương trình sách giáo khoa phân môn Luyện từ và câu lớp 2. Dự giờ học hỏi đồng nghiệp đồng thời điều tra khảo sát việc dạy và học phân môn Luyện từ và câu của giáo viên lớp 2. Từ đó thấy được những khó khăn vướng mắc của giáo viên và học sinh để tìm ra một số biện pháp cụ thể nhằm nâng cao chất lượng dạy và học phân môn Luyện từ và câu lớp 2.
1.3. Đối tượng nghiên cứu:
– Nghiên cứu phương pháp dạy học Luyện từ và câu lớp 2.
– Nghiên cứu sách giáo khoa, sách giáo viên lớp 2.
– Nghiên cứu các tài liệu bồi dưỡng môn Tiếng việt 2.
– Nghiên cứu tài liệu bồi dưỡng thường xuyên.
1.4. Phương pháp nghiên cứu:
– Phương pháp phân tích tổng hợp ( các văn bản, tài liệu, sách giáo khoa)
– Phương pháp điều tra
– Phương pháp quan sát
– Phương pháp thực nghiệm chứng minh
– Phương pháp thống kê
– Phương pháp tổng kết, rút kinh nghiệm sư phạm.
2. NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lý luận:
Phân môn Luyện từ và câu chiếm một vị trí rất quan trọng trong môn Tiếng Việt Tiểu học nói chung và tiếng Việt lớp 2 nói riêng. Đó là một môn khoa học cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về tiếng Việt bằng con đường quy nạp và rèn luyện kĩ năng dùng từ đặt câu, kĩ năng diễn đạt cho học sinh. Môn học này sẽ giúp các em có một số vốn từ về trường học; gia đình; muông thú; sông biển;…. Nhận biết về từ chỉ sự vật, từ chỉ hoạt động, từ chỉ tính chất, đặc điểm và nhận biết về các kiểu câu, một số dấu câu. Trên cơ sở đó, bồi dưỡng vốn từ ngữ giúp các em biết vận dụng để hành văn đúng với từng ngữ cảnh trong học tập, sinh hoạt và giao tiếp. Học tốt phân môn này sẽ tạo tiền đề cho các em học tốt những môn học khác. Chính vì vậy, việc nghiên cứu, tìm tòi để dạy tốt phân môn Luyện từ và câu là việc làm không thể thiếu được đối với mỗi giáo viên, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục cho học sinh.
Qua thực tế giảng dạy nhiều năm ở lớp 2, tôi đã rút ra được một số biện pháp giúp học sinh học tốt phân môn này.
2.2. Thực trạng của việc dạy và học Luyện từ và câu cho học sinh lớp 2 ở trường Tiểu học Xuân Dương.
Thuận lợi:
Phân môn Luyện từ và câu là sự tích hợp kiến thức từ ngữ và ngữ pháp. Hệ thống kiến thức trong chương trình sách giáo khoa được xây dựng ở dạng các bài tập, do đó giáo viên và học sinh thực hiện tương đối dễ dàng trong quá trình dạy và học. Hệ thống kiến thức này học sinh đã được làm quen trong các phân môn như: Tập đọc; Chính tả; Tập viết;…
Học đến lớp 2 kĩ năng đọc, viết của học sinh đã tương đối vững chắc nên việc dạy Luyện từ và câu tương đối thuận lợi.
Trang thiết bị, đồ dùng dạy – học của giáo viên và học sinh tương đối đầy đủ.
Khó khăn:
– Về phía giáo viên: Giáo viên đôi khi chưa thực sự khai thác hết thế mạnh của các phương pháp dạy học tích cực và những kĩ thuật dạy học mới vào bài dạy trong từng bài học. Khả năng hướng dẫn học sinh lĩnh hội kiến thức của mỗi giao viên lại khác nhau.
– Về phía học sinh:
+ Một số em học sinh lớp 2 đa số có vốn  sống còn ít, vốn hiểu biết về Tiếng Việt còn rất sơ sài, chưa định rõ trong giao tiếp, viết câu còn cụt  hoặc câu có thể có đủ ý nhưng chưa có hình ảnh. Các từ ngữ được dùng về nghĩa còn chưa rõ ràng. Việc trình bày, diễn  đạt ý của các em có mức độ rất sơ lược. Mặt khác, do thực tế học sinh mới được làm quen với phân môn Luyện từ và câu ở lớp 2 nên học sinh còn nhiều bỡ ngỡ, chưa có phương pháp học tập bộ môn một cách khoa học và hợp lý.
+ Đa số các em là con trong những gia đình có bố mẹ làm nghề nông thuần túy nên số phụ huynh có điều kiện và có ý thức mua sách báo cho con em mình đọc còn rất ít. Hơn nữa một số em chưa có thói quen đọc sách, ham đọc sách vì thế  vốn từ của các em còn hạn chế dẫn đến chưa mạnh dạn, tự tin trong giao tiếp.
+ Một số em tiếp thu bài còn thụ động, chưa phát huy hết tính tích cực của mình. Giao tiếp thông thường của các em chưa mạnh dạn.
Chính vì những khó khăn và hạn chế nêu trên nên chất lượng phân môn Luyện từ và câu của học sinh lớp tôi chưa đạt kết quả như mong muốn.
Chất lượng về phân môn Luyện từ và câu của học sinh lớp 2B đầu  năm học …………như sau:
Kết quả khảo sát tháng   năm học …………
2.3. Các giải pháp thực hiện.
Giải pháp 1:  Họp phụ huynh học sinh:
Đầu năm học tôi đã xin phép ban Lãnh đạo trường Tiểu học Xuân Dương được tổ chức cuộc họp phụ huynh học sinh. Trong cuộc họp tôi báo cáo tình hình học tập của học sinh. Nói về tầm qua trọng của các môn học nói chung, phân môn Luyện từ và câu nói riêng. Đặc biệt tôi giúp cha mẹ học sinh phần nào hiểu được kiến thức về từ ngữ – ngữ pháp và các kiểu câu trong chương trình học phân môn Luyện từ và câu lớp 2. Hướng dẫn phụ huynh cách dạy và kiểm tra việc học ở nhà của con em họ. Từ đó phụ huynh giúp các em học bài và chuẩn bị bài tốt ở nhà.
Giải  pháp 2: Chuẩn bị bài trước khi đến lớp:
– Đối với học sinh: Ngay từ buổi học đầu tiên, tôi đã yêu cầu mỗi học sinh có một quyển vở dành riêng cho khâu chuẩn bị bài ở nhà. Vì vậy, khi học trên lớp các em không còn bỡ ngỡ trước những kiến thức mới. Mà ngược lại các em chiếm lĩnh kiến thức một cách chủ động, tích cực.
– Đối với giáo viên: Khi lập kế hoạch bài dạy tôi luôn chú trọng đến từng đối tượng học sinh để lựa chọn nội dung, hình thức tổ chức dạy học phù hợp nhất. Bên cạnh đó tôi còn dự đoán trước kết quả học tập và dựa vào vốn từ sẵn có của các em để giúp các em hiểu, tìm thêm được nhiều từ mới, đặt được nhiều câu theo mẫu.
Giải pháp 3: Các bước  thực hiện trên lớp:
Hình thức bài tập trong sách giáo khoa của phân môn Luyện từ và câu lớp 2 rất đa dạng về kiểu loại, phong phú về hình thức, nhưng nét chung nhất là mở rộng vốn từ và làm quen về kiểu câu, các thành phần câu, ngoài ra còn làm quen với từ chỉ hoạt động, từ chỉ sự vật, từ chỉ tính chất. Để chuẩn bị cho tiết học trên lớp có được hiệu quả cao nhất, tôi tập trung một số nội dung chủ yếu sau:
– Xác định mục tiêu cần đạt của mỗi bài tập.
Phân môn Luyện từ và câu không có phần lý thuyết. Nên việc giải quyết các bài tập không chỉ rút ra một, hai đơn vị kiến thức sơ giản mà còn cung cấp cho học sinh những ghi nhớ, những kiến thức về từ ngữ, ngữ pháp thông qua các bài tập thực hành. Nên mỗi bài tập trong từng tiết dạy tôi cho học sinh xác định rõ mục tiêu cần đạt.
– Chuẩn  bị tốt các điều kiện để đạt được mục tiêu đề ra.
Điều kiện ở đây bao gồm từ trang thiết bị, đồ dùng dạy học đến hình thức tổ chức dạy học, phương pháp dạy học thích hợp trong quá trình lên lớp.
– Đồ dùng dạy học thông thường trong tiết Luyện từ và câu là tranh phóng to, hay một số vật thật hoặc mô hình để giảng từ và ý. Ngoài ra, trong tiết Luyện từ và câu tôi còn sử dụng các trang thiết bị hiện đại như máy chiếu hay các băng hình để nghe, xem hay minh họa cho nội dung bài Luyện từ và câu. Tuy nhiên, không nên lạm dụng nếu không thật cần thiết, làm mất thời gian trong tiết dạy.
Đối với một tiết dạy cần tổ chức cho học sinh học nhóm thì tôi chuẩn bị thêm các đồ dùng như bảng phụ, phiếu học tập,… .Việc làm thêm đồ dùng phục vụ cho tiết dạy tôi luôn nghiên cứu kĩ để có thể sử dụng lâu dài.
Ví dụ: Bài tập 2 (TV2- tập2- trang 79 )
Bài tập mở rộng vốn từ (bài tập giải ô chữ). Đối với bài tập này tôi thiết kế dưới dạng trò chơi giải ô chữ (chuẩn bị trong bài giảng điện tử – Máy chiếu). Khi học sinh tìm được từ theo gợi ý, giáo viên lần lượt xuất hiện các chữ cái của từ vào các ô tương ứng của bảng  theo từng dòng như vậy sẽ gây được sự chú ý của học sinh hơn.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Mẫu
1
S
Ơ
N
T
I
N
H

 

 

 

 

3

 

 

 

 

 

2

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

4

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

5

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

6

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

7

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

8

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Giải  pháp 4:  Lựa chọn hình thức học tập thích hợp.
Phân môn Luyện từ và câu được thiết kế dưới dạng hệ thống bài tập. Do đó tôi chuẩn bị hình thức tổ chức dạy học phù hợp với từng bài tập ở trong một tiết. Nếu không sẽ dẫn đến tiết học nhàm chán, không tạo được hứng thú học tập cho học sinh.
Căn cứ vào từng loại bài tập, tôi có thể lựa chọn hình thức dạy học phù hợp: Làm miệng, làm cá nhân, làm nhóm hoặc tổ chức trò chơi sao cho phù hợp với từng đối tượng học sinh.
Ví dụ:Tiết Luyện từ và câu ở Tuần 12: Bài tập 4 (TV2- Tập1- Trang 100) Có thể đặt dấu phẩy vào chỗ nào trong mỗi câu sau?
Tôi có thể đưa ra ba cách thực hiện phù hợp với từng đối tượng học sinh trong lớp. Ba cách đó là:
– Cách 1: Đặt hệ thống câu hỏi gợi mở (thường sử dụng hướng dẫn đối tượng học sinh chưa hoàn thành).
– Cách 2: Dùng sơ đồ trợ giúp (thường sử dụng hướng dẫn đối tượng học sinh hoàn thành).
– Cách 3: Khai thác sử dụng ngữ cảm của học sinh (đối tượng học sinh hoàn thành tốt)
Ba cách trên tôi sử dụng một cách linh hoạt. Mỗi bài tập, tôi có thể chia nhóm cùng trình độ để sử dụng cả ba cách hoàn thành bài tập phù hợp với đối tượng học sinh. Với những bài khó tôi có thể sử dụng cách 1, cách 2 để hướng dẫn đối tượng học sinh hoàn thành, hoàn thành tốt khi các em lúng túng, không làm được bài. Đối với những bài tập mức độ không quá khó, tôi có thể sử dụng cách khai thác khả năng ngữ cảm của học sinh. Như vậy cả ba cách trên sẽ được sử dụng mềm dẻo, linh hoạt tùy thuộc vào nội dung bài tập và đối tượng học sinh cả lớp.
Ví dụ: Bài 4 (TV 2 -Tập 1 – Trang 100): Có thể đặt dấu phẩy vào chỗ nào trong mỗi câu sau?
a. Chăn màn quần áo được xếp gọn gàng.
b. Giường tủ bàn ghế được kê ngay ngắn.
c. Giầy dép mũ nón được để đúng chỗ.
Với loại bài tập này tôi làm như sau:
– Cách 1: Đặt  hệ  thống câu hỏi gợi mở:
+ Tìm cặp từ ngữ chỉ tên các đồ vật?
+ Các cặp từ ngữ đó cùng trả lời cho câu hỏi gì ?
+ Dùng dấy phẩy tách các bộ phận câu giống nhau cùng trả lời cho câu hỏi Cái gì ?
– Cách 2: Dùng sơ đồ trợ giúp.
Ai? (Con gì? Cái gì ?)
Thế nào?

 

 

 

 

– Cách 3: Khai thác sử dụng ngữ cảm của học sinh.
Dựa vào kiến thức sẵn có của học sinh.
Giải  pháp 5: Tổ chức các hoạt động trên lớp.
Hoạt động dạy học của tiết Luyện từ câu lớp 2 chủ yếu là hướng dẫn học sinh thực hành để vận dụng những điều đã biết, đã học vào thực hiện các bài tập và cũng từ bài tập giáo viên đúc kết, hệ thống hoá những tri thức sơ giản về từ và câu cho học sinh. Để tiến hành một bài tập, tôi tiến hành tổ chức tốt những bước sau:
–  Giúp học sinh nắm vững yêu cầu của  bài tập.
Thông thường một tiết Luyện từ và câu ở lớp 2 có từ ba đến bốn bài tập. Mỗi bài tập đều nhằm mục đích rèn luyện một số kĩ năng nhất định. Do đó tuỳ thuộc vào kiểu loại bài tập mà giáo viên hướng dẫn cho học sinh nắm yêu cầu một cách thích hợp.
Ví dụ: Bài tập 2 (TV2 – Tập 1- Trang 122): Tìm từ chỉ đặc điểm của người và vật:
a) Đặc điểm về tính tình của một người.
M: tốt, ngoan, hiền,…
b) Đặc điểm về màu sắc của một vật.
M: trắng, xanh ,đỏ,…
c) Đặc điểm về hình dáng của người, vật.
M: Cao, tròn, vuông,..
Tôi cho học sinh học sinh đọc và xác định rõ yêu cầu của bài tập bằng cách:
+ Đọc yêu cầu bài tập ( 3 em đọc cá nhân, lớp đọc thầm)
+ Bài tập yêu cầu chúng ta làm gì?
+ Phân tích mẫu để học sinh hiểu yêu cầu của bài.
– Học sinh tiến hành làm bài tập.
Tôi hướng dẫn cụ thể  hình thức học của một bài tập sau đó để học sinh thực hiện như: Làm việc cá nhân, làm việc theo nhóm, tổ chức trò chơi học tập,… .Tuy nhiên tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể học sinh của lớp mình, tôi có hình thức dạy học thích hợp để tất cả học sinh trong lớp được bộc lộ và phát triển.

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

2
Toán
4.5/5
TÀI LIỆU WORD

30.000 

2
Toán
4.5/5
TÀI LIỆU WORD

30.000 

2
Toán
4.5/5
TÀI LIỆU WORD

30.000 

2
Toán
4.5/5
TÀI LIỆU WORD

30.000 

2
Toán
4.5/5
TÀI LIỆU WORD

30.000 

Theo dõi
Thông báo của
guest
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
Set your categories menu in Theme Settings -> Header -> Menu -> Mobile menu (categories)
Shopping cart

KẾT NỐI NGAY VỚI KIẾN EDU

Chúng tôi luôn sẵn sàng lắng nghe và đưa ra giải pháp phù hợp nhất cho vấn đề của bạn.

0814606698

Email

tailieugv@gmail.com

Đây chỉ là bản XEM THỬ - khách hàng vui lòng chọn mua tài liệu và thanh toán để nhận bản đầy đủ

TẢI TÀI LIỆU

Bước 1: Chuyển phí tải tài liệu vào số tài khoản sau với nội dung: Mã tài liệu
Chủ TK: Ngô Thị Mai Lan
STK Vietcombank: 1037627258 Copy

Bước 2: Gửi ảnh chụp giao dịch vào Zalo kèm mã tài liệu để nhận tài liệu qua Zalo hoặc email

Nhắn tin tới Zalo Tailieu GV (nhấn vào đây để xác nhận và nhận tài liệu!)