Search
Close this search box.

Skkn Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 2 viết tốt đoạn văn ngắn trong giờ tập làm văn

4.5/5

Giá:

30.000 đ
Cấp học: Tiểu học
Môn: Tiếng việt
Lớp: 2
Bộ sách:
Lượt xem: 486
File:
TÀI LIỆU WORD
Số trang:
22
Lượt tải:

2

Sáng kiến kinh nghiệm “Skkn Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 2 viết tốt đoạn văn ngắn trong giờ tập làm văn” triển khai gồm các biện pháp nổi bật sau:

3.2. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp
– Kĩ năng quan sát rất cần cho HS khi viết văn: Quan sát trên lớp theo gợi ý, hướng dẫn của GV hoặc tự quan sát khi chuẩn bị bài ở nhà. GV cần khai thác kĩ tranh ảnh, hình ảnh, tập trung quan sát đặc điểm nổi bật của đối tượng, mục đích là giúp HS tránh được kiểu kể liệt kê. Bên cạnh đó, tôi cũng hướng dẫn HS cách quan sát bằng các giác quan để cảm nhận một cách có cảm xúc về sự vật.
– Khuyến khích HS diễn đạt tự do, suy nghĩ chân thật, thể hiện thoái mái. Sau đó mới dần dần uốn nắn cách hành văn của các em mới tự nhiên.

Mô tả sản phẩm

ĐỀ TÀI
MỘT SỐ KINH NGHIỆM GIÚP HỌC SINH LỚP 2 VIẾT TỐT ĐOẠN VĂN NGẮN TRONG GIỜ HỌC TẬP LÀM VĂN
PHẦN MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài.
Môn Tiếng Việt có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh (HS) 4 kĩ năng: “nghe, nói, đọc, viết”. Trong đó phân môn Tập làm văn là phân môn cơ bản và có tính chất thích hợp của các phân môn khác trong chương trình Tiếng Việt bậc Tiểu học. Tuy số tiết Tập làm văn chiếm không nhiều, nhưng lại là phân môn mang tính chất thực hành và sáng tạo. Đồng thời, là phân môn có tính chất luyện tập tổng hợp. Qua tiết Tập làm văn, HS có khả năng xây dựng một văn bản, đó là bài nói, bài viết. Nói và viết là hình thức giao tiếp rất quan trọng, thông qua đó con người thực hiện quá trình tư duy – chiếm lĩnh tri thức, trao đổi tư tưởng tình cảm, cùng hợp tác trong cuộc sống lao động.
Ngôn ngữ (dưới dạng nói), ngôn ngữ (dưới dạng viết) giữ vai trò quan trọng trong sự tồn tại và phát triển của xã hội. Chính vì vậy hướng dẫn cho HS nói đúng và viết đúng là hết sức cần thiết. Nhiệm vụ này phụ thuộc phần lớn vào kĩ năng sư phạm trong giảng dạy môn Tiếng Việt nói chung và phân môn Tập làm văn nói riêng.
Qua thực tế giảng dạy tôi nhận thấy phân môn Tập làm văn là một phân môn khó trong môn Tiếng Việt. Do đặc trưng của phân môn Tập làm văn với mục tiêu cụ thể là: Hình thành và rèn luyện cho HS có khả năng trình bày văn bản (nghe, nói và viết) ở nhiều thể loại khác nhau như: miêu tả, nghe – kể chuyện, …về mình hoặc những người xung quanh mình. Trong quá trình tham gia vào các hoạt động học tập. HS với vốn kiến thức còn hạn chế nên thường ngại nói. Nếu bắt buộc phải nói các em thường đọc lại bài đã chuẩn bị trước. Do đó giờ dạy chưa đạt hiệu quả cao.

Rèn luyện kĩ năng nói, viết là khâu rất quan trọng trong dạy học phân môn Tập làm văn. Luyện kĩ năng nói, viết làm thay đổi không khí lớp học, giúp HS sôi nổi và hào hứng trong học tập.
Xuất phát từ những suy nghĩ làm thế nào để nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt nói chung và phân môn Tập làm văn nói riêng, nên tôi chọn đề tài “Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 2 viết tốt đoạn văn ngắn trong giờ học Tập làm văn”.
Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
Mục tiêu
Ghi lại những biện pháp mình đã làm để suy ngẫm, để chọn lọc và đúc kết thành kinh nghiệm của bản thân.
Được chia sẻ với bạn bè đồng nghiệp những việc mình đã làm và đã thành công trong việc tổ chức dạy học phân môn Tập làm văn.
Nhận được những lời góp ý, nhận xét từ Ban giám hiệu nhà trường và từ bạn bè đồng nghiệp, để tôi phát huy những mặt mạnh, điều chỉnh, khắc phục những thiếu sót cho hoàn thiện hơn.
Rèn luyện tính năng động, giữ lửa lòng say mê, sáng tạo, cố gắng học tập, tự cải tạo mình để theo kịp sự tiến bộ của xã hội.
Nhiệm vụ
Dạy phân môn Tập làm văn ở trường Tiểu học nói chung và ở lớp 2 nói riêng có nhiệm vụ cung cấp cho HS một số kiến thức ban đầu cơ bản nhưng phải vừa sức đối với lứa tuổi các em.
Dạy Tập làm văn có nhiệm vụ trang bị cho HS một hệ thống khái niệm, sự hiểu biết về cấu trúc ngôn ngữ và những quy luật của nó.
Những kĩ năng mà HS cần đạt trong giờ Tập làm văn là biết dùng từ, dùng câu trong nói và viết, nói đúng, dễ hiểu và sử dụng các câu văn hay, nhận ra những từ,

câu nhằm giúp HS nhận diện, phân biệt từ loại đúng (chính xác); câu văn sáng nghĩa (câu văn hay). Từ đó HS vận dụng vào giao tiếp như nói, viết,…
Phân môn Tập làm văn còn rèn cho HS khả năng tư duy lôgíc cao và khả năng thẩm mĩ.
Tìm hiểu những phương pháp phù hợp tâm lí lứa tuổi và đối tượng HS Tiểu học nhằm góp phần giáo dục các em thành những con người phát triển toàn diện.
Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu nội dung chương trình sách giáo khoa phân môn Tập làm văn lớp 2.
Nghiên cứu kết quả học tập của HS.
Phương pháp giảng dạy của GV.
Giới hạn phạm vi nghiên cứu
HS khối lớp 2 phân hiệu 2 trường TH Nguyễn Viết Xuân.
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp gợi mở.
Phương pháp phân tích, tổng hợp.
phương pháp kiểm tra, đánh giá.
Phương pháp động não.
Phương pháp điều tra, khảo sát.
PHẦN NỘI DUNG
Cơ sở lý luận
Trong trường Tiểu học, môn Tiếng Việt có ý nghĩa đặc biệt quan trọng với học sinh (HS) bởi nó là môn học cung cấp cho các em những kiến thức cần thiết trong giao tiếp hằng ngày. Nó giúp các em phát triển toàn diện, hình thành ở các em những cơ sở của thế giới khoa học, góp phần rèn luyện trí thông minh, hình thành tình cảm, thói quen đạo đức tốt đẹp của con người mới.

Dạy học Tiếng Việt giúp các em hình thành 4 kĩ năng cơ bản: Nghe, nói, đọc, viết. Phân môn Tập làm văn trong môn Tiếng Việt hội đủ 4 kĩ năng trên. Đối với HS lớp 2 thì đây là phân môn khó và viết đoạn văn ngắn là dạng bài nòng cốt trong phân môn Tập làm văn. Nó đòi hỏi ở người HS vốn sống hằng ngày, vốn từ phong phú, đôi mắt quan sát tinh tường, óc tưởng tượng sáng tạo nghệ thuật. Bởi vậy, khi dạy dạng bài này giáo viên (GV) cần nắm rõ tâm lý lứa tuổi HS. Bởi ở lửa tuổi của các em, vốn kiến thức và hiểu biết còn hạn hẹp, bên cạnh còn có một số khó khăn khách quan như điều kiện hoàn cảnh sống của HS ở địa bàn dân cư lao động nghèo, gia đình không có điều kiện để quan tâm đến các em, việc diễn đạt ngôn ngữ kém, việc tiếp thu kiến thức chậm, HS nghèo vốn từ ngữ,… Điều này ảnh hưởng đến học tập nói chung, học phân môn Tập làm văn nói riêng.
Thực trạng
Quá trình dạy học là một quá trình tư duy sáng tạo. Người GV là một kỹ sư tâm hồn, hơn nữa là một nhà nghệ thuật. Việc dạy học ngày nay luôn dựa trên cơ sở phát huy tính tích cực chủ động của HS. Chính vì thế nó đòi hỏi người GV phải luôn có sự sáng tạo, tự cải tiến phương pháp dạy học của mình nhằm mục đích nâng cao chất lượng dạy học. Mỗi môn học ở Tiểu học đều góp phần hình thành và phát triển nhân cách ở trẻ, cung cấp cho trẻ những kiến thức cần thiết.
Phân môn Tập làm văn ở tiểu học có nhiệm vụ rất quan trọng là rèn kĩ năng nói và viết. Thế nhưng hiện nay, đa số các em HS lớp 2 đều rất sợ học phân môn Tập làm văn vì không biết nói gì? Viết gì? Ngay cả bản thân GV đôi khi cũng không tự tin lắm khi dạy phân môn này so với môn học khác. Do đó khi đứng lớp tôi luôn chú ý đến việc rèn luyện kĩ năng Tập làm văn cho HS.
Rèn kỹ năng nghe, nói là khâu rất quan trọng trong giảng dạy phân môn Tập làm văn. Nói – HS biết bộc lộ tư tưởng, truyền đạt thông tin trong các hoàn cảnh giao tiếp khác nhau. Luyện kỹ năng nghe – nói làm thay đổi không khí lớp học, giúp cho HS sôi nổi, hào hứng trong học tập. Tất cả các vấn đề đó đã góp phần rất

lớn về đổi mới phương pháp dạy học, là cơ hội để HS thể hiện kỹ năng sử dụng Tiếng Việt của mình.
Xuất phát từ những suy nghĩ làm thế nào để nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt nói chung và phân môn Tập làm văn nói riêng, nên tôi chọn đề tài: “ Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 2 viết tốt đoạn văn ngắn trong giờ học Tập làm văn”.
Khó khăn, thuận lợi
Thuận lợi
* Đối với giáo viên
Được sự chỉ đạo chuyên môn phòng, chuyên môn trường, tổ chuyên môn có vai trò tích cực giúp GV đi đúng nội dung, chương trình phân môn Tập làm văn…
Qua các tiết dạy mẫu, các cuộc thi, chuyên đề đã có nhiều GV thành công khi dạy Tập làm văn.
Qua phương tiện thông tin đại chúng, ti vi, đài, sách, báo,… GV tiếp cận với phương pháp đổi mới Tập làm văn thường xuyên hơn.
* Đối với học sinh
Môn Tiếng Việt nói chung và phân môn Tập làm văn nói riêng có nội dung phong phú, hài hước, dí dỏm, sách giáo khoa trình bày với kênh hình đẹp, hấp dẫn HS, phù hợp với tâm lý lứa tuổi các em.
Khó khăn
Các em từ lớp 1 lên, bước đầu làm quen với phân môn học mới, do hạn chế về vốn sống, môi trường giao tiếp nên ảnh hưởng đến việc học Tập làm văn. Các em còn đọc viết chưa rõ ràng, còn nhút nhát, thiếu tự tin và thụ động trong học tập, khả năng chú ý chưa cao, một số em còn ham chơi. Điều đó ảnh hưởng đến chất lượng học tập của các em.
Điều kiện phương tiện phục vụ cho dạy – học còn thiếu ảnh hưởng không nhỏ đến việc dạy và học phân môn Tập làm văn.Trong quá trình làm bài, tôi nhận

thấy các em còn lúng túng, nhiều HS làm bài chưa đạt yêu cầu. Các em thường lặp lại câu đã viết, dùng từ sai, cách chấm câu còn hạn chế, có em không viết đúng yêu cầu của đề bài hoặc có những bài làm đảm bảo về số câu nhưng viết không đủ ý. Vào đầu năm học tôi đã tiến hành khảo sát HS với đề bài là: Viết một đoạn văn ngắn từ 4 đến 5 câu nói về cô giáo( thầy giáo) cũ của em. Kết quả đạt được như sau:
Lớp 2B
Đạt
Chưa đạt
Trước khi chưa thực hiện đề
tài
21em
09 em

Qua khảo sát cho thấy HS chưa biết cách diễn đạt, vốn từ vựng chưa nhiều, hiểu biết thực tế còn ít, do vậy bài văn của các em chưa hay, câu văn còn lủng củng. Kết quả này cũng thể hiện phương pháp giảng dạy của GV chưa phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS trong giờ học.
Thành công, hạn chế
Qua nhiều năm giảng dạy lớp 2, HS chưa ham học phân môn Tập làm văn, muốn giúp các em ham học và lấy lại căn bản, người GV phải có cái tâm, phải thật sự yêu thương HS. Như thế, mới tận tụy trong nghề nghiệp, mới chụi khó, kiên trì dạy dỗ các em. Do vậy người GV phải tạo cho các em một niềm tin vào bản thân cũng như quyết tâm trong học tập.
Truyền thụ kiến thức mới GV không nói nhiều, không vội làm thay cho HS mà phải để các em tự phát hiện, tự giải quyết vấn đề.
Chất lượng đào tạo tăng, HS biết nói, viết thành đoạn văn ngắn qua từng kì, năm
HS có năng khiếu viết văn hay, có hình ảnh, có tình cảm đẹp.
Một số em còn chưa đam mê học phân môn Tập làm văn.
Mặt mạnh, mặt yếu

HS học thụ động
Giúp HS có thói quen độc lập suy nghĩ, tự giác trong học tập, có tinh thần trách nhiệm cao, có ý thức tổ chức kỷ luật.
Nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện đây là một việc làm hết sức quan trọng, lớn lao.
GV chưa chủ trọng trong giảng dạy. Đồ dùng dạy học hạn chế chưa mang lại hiệu quả tiết học.
Các nguyên nhân, các yếu tố tác động…
Do các em chưa có ý thức học tập còn ham chơi, chưa nhận thức được vai trò học tập.
Do HS thụ động trong học tập.
GV sử dụng các phương pháp giảng dạy chưa phù hợp.
Gia đình quan tâm chưa đúng cách đến việc học tập của các em.
Từ những nguyên nhân trên tôi xác định đâu là nguyên nhân chính đối với HS để có phương pháp và hình thức rèn luyện phù hợp với từng HS.
Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đặt ra.
HS đọc, viết chưa rõ ràng, còn nhút nhát, thiếu tự tin, một số em chưa ham học còn ham chơi.
Do đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi, các em nhanh nhớ nhưng cũng mau quên, mức độ tập trung thực hiện các yêu cầu chưa cao.
Kiến thức về cuộc sống thực tế của các em còn hạn chế, ảnh hưởng đến việc tiếp thu bài.
Vốn từ vựng của các em chưa nhiều cũng ảnh hưởng đến việc thực hành độc lập. Cụ thể là: Các em nói rời rạc, chưa liên kết, thiếu lôgíc, tính sáng tạo trong truyền đạt chưa cao.
Một số HS còn phụ thuộc vào văn bản mẫu, áp dụng một cách máy móc, chưa biết vận dụng bài văn mẫu để hình thành lối hành văn riêng của mình.

Một số ít phụ huynh quan tâm chưa đúng cách còn phó mặc cho thầy (cô), nhà trường.
+ HS nói, viết chưa thành câu, dùng từ chưa hợp lý.
+ Chưa biết dùng từ ngữ, câu văn có hình ảnh sinh động.
+ Chưa biết trình bày đúng nội dung đoạn văn mình viết theo yêu cầu.
Giải pháp, biện pháp
Mục tiêu của giải pháp, biện pháp
– Để dạy tốt phân môn Tập làm văn trước hết người GV cần:
Nghiên cứu kỹ nội dung chương trình và chuẩn kiến thức – kỹ năng môn học, căn cứ vào chuẩn kiến thức – kĩ năng để xác định mục tiêu bài học và mục tiêu từng hoạt động học tập, mạnh dạn điều chỉnh mục tiêu của bài soạn sao cho phù hợp với chuẩn kiến thức và trình độ nhận thức của HS. Đồng thời phải căn cứ vào điều kiện, đặc điểm, khả năng tiếp thu của HS trong lớp. Từ đó đề ra phương án cụ thể cho từng hoạt động học tập.
Hiệu quả của giờ học phụ thuộc vào việc chuẩn bị bài của GV. Vì thế GV
cần chuẩn bị bài chu đáo (đồ dùng dạy học, phiếu bài tập, các phương tiện hỗ trợ khác như hoa điểm mười, cờ thi đua,…
Thường xuyên đổi mới phương pháp dạy học, tự tìm tòi nghiên cứu tài liệu, coi trọng quan điểm “Phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS” làm sao cho tất cả HS đều được hoạt động, tạo niềm vui hứng thú cho các em.
Tạo môi trường học tập thuận lợi cho HS
Xuất phát từ đặc điểm tâm lí lứa tuổi HS lớp 2. Các em hiếu động, tò mò,
ham hiểu biết, thích hoạt động vui chơi. Vì vậy GV cần linh hoạt vận dụng nhiều hình thức học tập: học cá nhân, học trong nhóm, học cả lớp để khuyến khích cả lớp cùng tham gia, không để bất kỳ HS đứng ngoài cuộc.
Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp

Kĩ năng quan sát rất cần cho HS khi viết văn: Quan sát trên lớp theo gợi ý, hướng dẫn của GV hoặc tự quan sát khi chuẩn bị bài ở nhà. GV cần khai thác kĩ tranh ảnh, hình ảnh, tập trung quan sát đặc điểm nổi bật của đối tượng, mục đích là giúp HS tránh được kiểu kể liệt kê. Bên cạnh đó, tôi cũng hướng dẫn HS cách quan sát bằng các giác quan để cảm nhận một cách có cảm xúc về sự vật.
Thông qua phương pháp quan sát, GV rèn cho HS kĩ năng nói, trình bày miệng, trước khi làm bài viết. Trên cơ sở đó, GV điều chỉnh giúp HS hoàn thiện bài viết. Với phương pháp này, tôi thường tổ chức cho HS luyện nói cá nhân, luyện nói trong nhóm. (HS có thể kết nhóm theo ý thích, để có sự thoái mái, tự nhiên, tự tin khi tham gia làm việc trong nhóm).
Khuyến khích HS diễn đạt tự do, suy nghĩ chân thật, thể hiện thoái mái. Sau đó mới dần dần uốn nắn cách hành văn của các em mới tự nhiên.
Ví dụ: Khi các em nói về hoạt động của chú gà trống như sau: “Nó đập cánh và gáy to lắm”. Ta có thể khuyến khích các em là tả đúng rồi nhưng nếu em sứ dụng một số từ gợi tả thì chắc chắn câu văn của em sẽ hay hơn nhiều như: “ Nó vỗ cánh và rướn cổ gáy vang”.
Ví dụ: Dựa vào mẫu câu các em được học ở phân môn Luyện từ và câu: “ Ai – là gì?”; “Ai – làm gì?”; “Ai – thế nào?” GV hướng dẫn HS nhận biết những vấn đề sai.
Câu văn viết ra của em đã đủ hai bộ phận chưa? Bộ phận trả lời cho câu hỏi Ai? (hoặc cái gì? / con gì?) ? Bộ phận trả lời cho câu hỏi Là gì? (hoặc làm gì? / như thế nào?)
– GV cần cung cấp giúp các em sự lựa chọn, phân tích để sử dụng từ ngữ cho hợp lí. Bên cạnh đó, GV cũng cần giới thiệu, cung cấp thêm các từ đồng nghĩa phù hợp với bài văn…
Ví dụ: Khi viết về cảnh biển buổi sáng có thể dùng các từ đồng nghĩa như: bình minh, hửng đông, sớm mai. Viết về gia đình có các từ như: đoàn tụ, sum

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

2
Toán
4.5/5
TÀI LIỆU WORD

30.000 

2
Toán
4.5/5
TÀI LIỆU WORD

30.000 

2
Toán
4.5/5
TÀI LIỆU WORD

30.000 

2
Toán
4.5/5
TÀI LIỆU WORD

30.000 

2
Toán
4.5/5
TÀI LIỆU WORD

30.000 

Theo dõi
Thông báo của
guest
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
Set your categories menu in Theme Settings -> Header -> Menu -> Mobile menu (categories)
Shopping cart

KẾT NỐI NGAY VỚI KIẾN EDU

Chúng tôi luôn sẵn sàng lắng nghe và đưa ra giải pháp phù hợp nhất cho vấn đề của bạn.

0814606698

Email

tailieugv@gmail.com

Đây chỉ là bản XEM THỬ - khách hàng vui lòng chọn mua tài liệu và thanh toán để nhận bản đầy đủ

TẢI TÀI LIỆU

Bước 1: Chuyển phí tải tài liệu vào số tài khoản sau với nội dung: Mã tài liệu
Chủ TK: Ngô Thị Mai Lan
STK Vietcombank: 1037627258 Copy

Bước 2: Gửi ảnh chụp giao dịch vào Zalo kèm mã tài liệu để nhận tài liệu qua Zalo hoặc email

Nhắn tin tới Zalo Tailieu GV (nhấn vào đây để xác nhận và nhận tài liệu!)