SKKN Giáo dục bản sắc VHDT cho học sinh trường PTDTNT qua công tác chủ nhiệm

Giá:
100.000 đ
Cấp học: THPT
Môn: Chủ nhiệm
Lớp:
Bộ sách:
Lượt xem: 367
File:
TÀI LIỆU WORD
Số trang:
39
Lượt tải:
9

Sáng kiến kinh nghiệm SKKN Giáo dục bản sắc VHDT cho học sinh trường PTDTNT qua công tác chủ nhiệm triển khai gồm các biện pháp nổi bật sau:

– Chú trọng giáo dục ý thức giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh
– Xây dựng kế hoạch cụ thể, hướng dẫn, tổ chức các hoạt động nhằm giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh
– Phát huy thế mạnh của bộ môn giảng dạy vào công tác chủ nhiệm
– Kết hợp và yêu cầu sự hỗ trợ của phụ huynh học sinh
– Những lưu ý trong quá trình thực hiện

 

Mô tả sản phẩm

PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1. Ngay từ những năm đầu tiên của thế kỷ XXI, nhiệm vụ trọng tâm của toàn dân ta là đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Chúng ta biết rằng, công nghiệp hóa và hiện đại hóa không phải là mục đích tự thân, mà là một phương thức có tính phổ biến để thực hiện mục tiêu của mỗi quốc gia. Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta tiến triển trước bối cảnh xu thế toàn cầu hóa về nhiều mặt đang gia tăng. Xu thế đó là khách quan, chúng ta không thể tách mình ra khỏi dòng chảy toàn cầu hóa, mà phải chuẩn bị cho mình đầy đủ những năng lực nội sinh cần thiết để chủ động hội nhập kinh tế thế giới. Muốn vậy, trước hết vừa phải giữ được bản sắc văn hóa dân tộc, vừa phải tiếp thu được những tinh hoa của văn hóa nhân loại. Vì thế, Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VIII trình trước Đại hội IX đã nhấn mạnh việc xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Sự nghiệp Giáo dục và Đào tạo có vai trò rất lớn trong việc giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc. Đó là chiếc cầu nối giữa quá khứ – hiện tại – tương lai, góp phần tạo nên những giá trị bền vững vừa mang tính truyền thống vừa
mang tính hiện đại.
1.2. Trường THPT DTNT N’Trang Lơng là một ngôi trường chuyên biệt được thành lập ngay từ khi tách tỉnh năm 2004, có trọng trách đào tạo nguồn cán bộ người dân tộc thiểu số cho tỉnh Đắk Nông. Ngôi trường là nơi hội tụ của con em 15 dân tộc khác nhau trong toàn tỉnh, mỗi dân tộc mang một bản sắc văn hóa khác nhau. Các em hội tụ về đây không chỉ để thực hiện khát vọng con chữ, tìm cánh cửa lập thân lập nghiệp, góp phần xây dựng quê hương mà quan trọng hơn, trong suốt ba năm chung sống, cùng ăn ở, học tập chính là cơ hội để các em rèn luyện kỹ năng sống, bồi đắp những hiểu biết không chỉ về dân tộc mình mà còn hiểu thêm về văn hóa của nhiều dân tộc khác nhau. Đây chính là nguồn tri thức vô giá không có trường lớp nào có thể đào tạo được mà chỉ có quá trình chung sống, san sẻ mới có cơ hội tiếp cận. Cho nên, đối với một giáo viên giảng dạy ở trường nội trú không chỉ đóng vai trò là một người thầy giáo dục nhân cách và tri thức mà còn là người cha, người mẹ thứ hai của các em, là chỗ dựa tinh thần để các em có thể chia sẻ những tâm tư, tình cảm khi phải sống xa gia đình. Đối với một giáo viên chủ nhiệm còn đặc biệt quan trọng hơn nữa, là những người thầy đặc biệt, bởi họ không những phải làm nhiệm vụ dạy dỗ học trò như các giáo viên khác, mà còn phải gánh trên vai bao trách nhiệm nặng nề khác, đóng vai trò làm chiếc cầu nối giữa nhà trường với học sinh và gia đình học sinh, giữa các giáo viên bộ môn với học sinh…Giáo viên chủ nhiệm không chỉ là người thầy mà trong nhiều tình huống còn phải là người cha, người mẹ, người bạn, chỗ dựa tinh thần của các em.
1.3. Trong giáo dục đạo đức cho học sinh, việc giáo dục đạo đức truyền thống của dân tộc là rất quan trọng. Những giá trị và chuẩn mực đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam đã được lưu giữ, truyền lại cho các thế hệ và không ngừng được phát huy qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước. Để bảo tồn văn hóa, con người lấy việc giáo dục văn hóa làm quan trọng. Con người sử dụng trường học như một phương tiện hiệu quả trong giáo dục văn hóa nhằm bảo tồn và phát triển văn hóa. Vì vậy, ở bất cứ nơi đâu, nhà trường đều có nhiệm vụ giáo dục văn hóa cho học sinh. Mỗi học sinh trường PTDTNT (phổ thông dân tộc nội trú) là đại biểu văn hóa của một vùng quê, một dân tộc. Trường PTDTNT tạo điều kiện để học sinh được tiếp xúc và thể nghiệm các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc mình để mạch chảy văn hóa không ngừng được nuôi dưỡng và lớn mạnh. Trường PTDTNT tổ chức các hoạt động tìm hiểu, thể hiện, giao lưu văn hóa để học sinh được trao đổi học tập và cùng tham gia vào việc bảo tồn, phát triển các giá trị văn hóa dân tộc. Nhờ được tiếp xúc thường xuyên với các hoạt động văn hóa mà học sinh trường PTDTNT vẫn là người con của dân tộc, đồng thời là người hiểu biết và tôn trọng bản sắc văn hóa của các dân tộc anh em.
Chính vì những lý do trên mà tôi chọn đề tài Giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh THPT DTNT qua công tác chủ nhiệm làm đề tài nghiên cứu.
2. Mục tiêu, nhiệm vụ
2.1. Mục tiêu: Xuất phát từ thực trạng ngoài xã hội và tình hình thực tế của nhà trường, mục tiêu mà tôi đặt ra là sau quá trình thực hiện, học sinh có sự chuyển biến tích cực trong nhận thức, ý thức giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Đồng thời những hiểu biết và hoạt động sau khi thực nghiệm sẽ là kiến thức bổ ích hỗ trợ cho các em trong quá trình học tập.
2.2. Nhiệm vụ:
– Nghiên cứu, tìm hiểu sâu rộng về bản sắc văn hóa dân tộc của nhiều dân tộc
khác nhau, tập trung vào các dân tộc hiện có học sinh đang theo học trong nhà trường.
– Tích cực thâm nhập thực tế, tìm hiểu qua các lễ hội tại địa phương, qua tiếp xúc với phụ huynh học sinh…
– Xây dựng chương trình, kế hoạch cụ thể, chú ý khâu theo dõi, đánh giá khả năng, mức độ thực hiện của học sinh.
– Đề ra được những giải pháp, cách thức cụ thể, có tính khả thi cao
3. Đối tượng nghiên cứu
Trong sáng kiến kinh nghiệm này tôi tập trung vào đề tài Giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh THPT DTNT qua công tác chủ nhiệm được rút ra từ quá trình làm công tác chủ nhiệm của bản thân.
4. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
Do đặc thù của nhà trường và từ thực tiễn công tác, tôi tập trung khảo sát thực trạng vấn đề đó là thái độ, ý thức của học sinh đối với những giá trị văn hóa dân tộc và đã mạnh dạn đề xuất cách thức, giải pháp thực hiện để giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh trường PTDTNT một cách hiệu quả.
5. Phương pháp nghiên cứu
– Điều tra, áp dụng thực tế
– Phân tích, tổng hợp

PHẦN NỘI DUNG
1. Cơ sở lý luận
1.1. Khái quát chung về bản sắc văn hóa dân tộc
1.1.1. Trong phần cuối tập Nhật ký trong tù, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, kho học, tôn giáo văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những phát minh và sáng tạo đó tức là văn hóa. Văn hóa là tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng biểu hiện của nó mà loài người sản sinh ra nhằm mục đích thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sinh tồn”. Khái niệm “văn hoá” theo Từ điển Tiếng Việt, có các nghĩa:
– Toàn thể những thành tựu của loài người trong sản xuất, xã hội và tinh thần: “văn hoá xã hội chủ nghĩa”. Sự hiểu biết về sự vật hay về cách xử thế tích lũy bằng việc học tập có hệ thống hoặc thấm nhuần đạo đức và phép tắc lịch sự. Khái niệm “văn hoá” được hiểu như trên để phân biệt với khái niệm văn hiến.
– Chỉ văn vật, “văn minh”
– Chỉ giai đoạn phát triển của xã hội loài người… có trình độ tổ chức và sinh hoạt cao.
Như vậy, khái quát lại, văn hóa là sự hợp nhất giá trị sáng tạo của con người trải qua nhiều thế hệ, bao gồm nhiều lĩnh vực, đa dạng về sản phẩm. Sản phẩm văn hóa tồn tại theo hình thức vật chất hay phi vật chất. Sản phẩm văn hóa không ngừng được con người sáng tạo, lưu giữ, vận dụng và phát triển. Văn hóa dân tộc bao gồm giá trị văn hóa của cộng đồng dân tộc sáng tạo trong suốt quá trình lịch sử hình thành và phát triển của dân tộc đó. Tùy tình hình vận động và phát triển của mỗi dân tộc mà quy mô và bề dày sáng tạo văn hóa của từng dân tộc có khác nhau. Văn hóa dân tộc được bảo tồn và phát triển có nghĩa là một dân tộc được tồn vong.
1.1.2. Thuật ngữ “bản sắc” nhấn mạnh cái riêng tạo thành phẩm cách, tài năng. Cũng cần phân biệt, từ “đặc biệt” chỉ sự khác xa mức thường, “đặc điểm” chỉ những nét riêng biệt, “đặc trưng” chỉ dấu hiệu đặc biệt nổi trội. “Bản sắc văn hoá” là những đặc điểm riêng biệt, có giá trị cao, gồm những giá trị vật chất và tinh thần được tích luỹ và phát triển trong tiến trình đi lên của một dân tộc, nó quy định vị trí riêng biệt về mặt xã hội của một dân tộc. Những giá trị đó có thể có ở mọi dân tộc, song ở dân tộc có bản sắc văn hoá được biểu hiện đậm nét, sâu sắc và đặc biệt hơn. Hệ thống cấu trúc bản sắc văn hoá dân tộc: Theo Giáo sư Phạm Hoàng Gia, một nhà nghiên cứu về văn hóa cho rằng: hạt nhân của bản sắc dân tộc gồm: lối sống; tâm thức – lối ứng xử; ngôn ngữ.
Ở góc độ giá trị tinh thần xã hội, bản sắc văn hoá được thể hiện ở lối sống, cách ứng xử, cách thể hiện ở nếp sinh hoạt, ngôn ngữ, giao tiếp… một cách đặc biệt, khó có thể trộn lẫn. Chẳng hạn, đối với người Nhật Bản, họ có thái độ niềm nở, lịch sự, cẩn thận, chu đáo, ý thức chấp hành, ý chí theo đuổi đến cùng mục tiêu công việc… là những nét biểu hiện rõ nét đến mức bất cứ ai đến Nhật Bản đều thừa nhận đó là “bản sắc văn hoá Nhật Bản”.
1.2. Việt Nam là quốc gia có nhiều dân tộc chung sống với giá trị văn hóa dân tộc rất đa dạng và đặc sắc. Các dân tộc đều có nền văn hóa riêng được khẳng định bằng những giá trị sáng tạo giàu có và bản sắc. Trong quá trình phát triển, văn hóa Việt Nam đã phát triển bằng “biến động” và “hấp thụ” hết sức phong phú để nó là chính nó, thậm chí sâu sắc hơn, đa dạng hơn. Do kết tinh những điều kiện tự nhiên, lịch sử và mối quan hệ giao lưu mà ngoài đặc trưng riêng của từng dân tộc thì các nền văn hóa còn hình thành đặc trưng theo vùng. Việt Nam có thể chia thành 6 vùng văn hóa, gồm: vùng Đông Bắc, vùng Tây Bắc, vùng Tây Bắc, vùng châu thổ Bắc Bộ, vùng Trung Bộ, vùng Tây Nguyên, vùng Nam Bộ. Mỗi vùng văn hóa có những đặc điểm chung và riêng. Việc phân chia 6 vùng văn hóa là tương đối, ngày nay trong bối cảnh hội nhập kinh tế và giao lưu văn hóa giữa các dân tộc, giá trị văn hóa của mỗi tộc người đều chịu những tác động tích cực và tiêu cực. Văn hóa dân tộc đã có những yếu tố được làm giàu, phát triển, nhưng cũng có một số yếu tố bị biến dạng, hòa tan, mất bản sắc. Chính điều này đặt ra nhiệm vụ cấp thiết là phải bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của các dân tộc, nhất là các dân tộc thiểu số.
2. Cơ sở thực tiễn
2.1. Xuất phát từ mục tiêu xây dựng con người Việt Nam thời đại mới
Chủ trương xây dựng con người văn hóa luôn được Đảng, Nhà nước coi trọng, tiếp tục kế thừa những nội dung của Nghị quyết TW 5 khóa VIII, Nghị quyết
Trung ương 9 đã chỉ rõ: “So với những thành tựu trong lĩnh vực chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, thành tựu trong lĩnh vực văn hóa chưa tương xứng, chưa đủ để tác động có hiệu quả xây dựng con người và xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong
Đảng và trong xã hội có chiều hướng gia tăng… Môi trường văn hóa còn tồn tại tình trạng thiếu lành mạnh, ngoại lai trái với thuần phong mỹ tục, tệ nạn xã hội, tội phạm có chiều hướng gia tăng”. Và đây cũng là một trong những nguyên nhân của “kinh tế phát triển chưa bền vững, chất lượng, hiệu quả sức cạnh tranh thấp”. Nguy cơ tụt hậu xa hơn nữa về kinh tế so với các nước trong khu vực và thế giới chưa được đẩy lùi mà còn có chiều hướng gia tăng. Từ thực tiễn nêu trên đòi hỏi các cấp ủy, chính quyền và toàn bộ hệ thống chính trị khi triển khai thực hiện phải quán triệt và xử lý tốt mối quan hệ biện chứng giữa xây dựng kinh tế với phát triển văn hóa, phải xây dựng và thực hiện đồng bộ chính sách văn hóa trong kinh tế và chính sách kinh tế trong văn hóa, đảm bảo cho văn hóa thể hiện rõ trong các hoạt động kinh tế, thúc đẩy các hoạt động kinh tế, tạo điều kiện nhiều hơn cho sự nghiệp phát triển văn hóa. Việc xây dựng các mục tiêu giải pháp kinh tế phải gắn với các mục tiêu giải pháp văn hóa, chăm lo con người, nêu cao đạo đức trong sản xuất kinh doanh. Xây dựng văn minh
thương nghiệp, văn hóa kinh doanh, văn hóa sinh thái…
Chương trình xây dựng và phát triển văn hóa phải vì mục tiêu phát triển toàn diện con người, hoàn thiện nhân cách con người, với nhiệm vụ trọng tâm là chăm lo xây dựng con người có nhân cách, lối sống tốt đẹp với các đặc tính cơ bản: Yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, cần cù, sáng tạo.
Các hoạt động của hệ thống giáo dục – đào tạo, của hệ thống thiết chế văn hoá, khoa học phải hướng vào việc xây dựng con người Việt Nam có thế giới quan khoa học, gắn giáo dục, rèn luyện đạo đức với thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân, bồi dưỡng tri thức, nâng cao trí lực và kỹ năng sống, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, của kinh tế tri thức và xã hội học tập, của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam.
Phải thực sự coi trọng giáo dục, bồi dưỡng, xây dựng lối sống cao đẹp:
“Mỗi người vì mọi người, mọi người vì mỗi người”, lối sống có ý thức tự tôn, tự trọng, tự chủ; sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật; ý thức bảo vệ môi trường, lối sống kết hợp hài hoà tính tích cực cá nhân và tích cực xã hội, đề cao trách nhiệm của cá nhân với bản thân, với gia đình và xã hội; biết khẳng định, tôn vinh cái đúng, cái thiện, cái đẹp, cái cao thượng và nhân rộng các giá trị nhân văn cao đẹp. Coi trọng phát triển văn học nghệ thuật và phát huy vai trò của văn học, nghệ thuật trong việc bồi dưỡng tâm hồn, tình cảm, nhân cách của con người. Tăng cường giáo dục nghệ thuật, nâng cao năng lực cảm thụ thẩm mỹ cho nhân dân, đặc biệt cho lớp trẻ. Bảo đảm quyền hưởng thụ và sáng tạo văn hoá của mỗi người dân và của cả cộng đồng. Thực sự coi trọng giáo dục, bồi
dưỡng, rèn luyện nâng cao thể lực, tầm vóc con người Việt Nam.
Do đó, các lĩnh vực văn hóa như: Giáo dục – đào tạo, khoa học – công nghệ, văn học, nghệ thuật, báo chí truyền thông, di sản văn hóa, thể chế, thiết chế văn hóa, văn hóa tôn giáo, giao lưu văn hóa và tất cả các thành tố của môi trường văn hóa (gia đình, các cơ quan, đơn vị, trường học, bệnh viện, đơn vị lực lượng vũ trang, các bản làng, phường, xã…) trong chương trình hoạt động của mình phải hướng tới hiện thực hóa mục tiêu chung: Xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện hướng đến Chân – Thiện – Mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học để văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội; là sức mạnh nội sinh quan trọng, bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng văn minh.
2.2. Xuất phát từ mục tiêu, nhiệm vụ của ngành giáo dục
Từ chủ trương, đường lối của Đảng, ngành giáo dục cũng vận dụng các giá trị văn hóa là mục tiêu quan trọng, trong Luật giáo dục đã khẳng định: “Kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp, bản sắc văn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại” (Điều 5, Chương 1, Luật GD sửa đổi bổ sung năm 2009). Bên cạnh đó chính sách trọng tâm đã và đang thực hiện là phong trào thi đua
“Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”, trong Chỉ thị số 40/2008/CT-BGĐT ngày 22/7/2008 đã nêu rõ: “Mỗi trường đều nhận chăm sóc một di tích lịch sử, văn hóa hoặc di tích cách mạng ở dịa phương, góp phần làm cho di tích ngày càng sạch đẹp hơn, hấp dẫn hơn; tuyên truyền, giới thiệu các công trình, di tích của địa phương với bạn bè. Mỗi trường có kế hoạch và tổ chức giáo dục truyền thống VHDT và tinh thần cách mạng một cách hiệu quả cho tất cả học sinh; phối hợp với chính quyền, đoàn thanh niên và nhân dân địa phương và phát huy giá trị của các di tích lịch sử, văn hóa và cách mạng cho cuộc sống của cộng đồng ở địa phương và khách…”.
2.3. Xuất phát từ tình hình thực tiễn của nhà trường
2.3.1. Là một tỉnh phía Nam Tây Nguyên, Đắk Nông như một bản trường ca huyền bí giữa núi rừng đại ngàn, nơi thượng nguồn của dòng sông Đồng Nai thơ mộng được bao bọc bởi những cánh rừng nguyên sinh, những thác nước còn mang vẻ hoang sơ, hùng vĩ, và những đồi càfe, cao su ngút ngàn trải dài từ Bắc chí Nam. Đất lành thì chim đậu, mặc dù là một tỉnh mới được thành lập 12 năm nay nhưng Đắk Nông là nơi hội tụ của hơn 20 dân tộc khác nhau trên cả nước, trong đó hai dân tộc bản địa là Mạ, MNông chiếm đa số. Trên cơ sở đó, ngay khi thành lập tỉnh trường PTDTNT tỉnh cũng được thành lập, mục đích đào tạo nguồn cán bộ người dân tộc thiểu số cho tỉnh nhà.
Năm đầu thành lập, nhà trường có 120 em học sinh chia thành 4 lớp, cho đến nay, quy mô nhà trường đã khang trang bề thế về cả số lượng và chất lượng với hơn 400 em học sinh, các em là con em của các dân tộc trên toàn tỉnh từ buôn làng xa xôi, hẻo lánh đến trung tâm huyện, thị. Ngôi trường trở thành ngôi nhà chung của con em 15 dân tộc khác nhau, các em đến đây không chỉ học tập mà cùng chung sống với nhau suốt 3 năm học.
Là một ngôi trường chuyên biệt với đặc thù là đào tạo học sinh người dân tộc thiểu số, cho nên, trường THPT DTNT N’Trang Lơng luôn nhận được sự quan tâm, đầu tư của Đảng, Nhà nước, các cơ quan ban ngành, các tổ chức xã hội từ TW tới địa phương. Đã nhiều lần nhà trường được đón các vị lãnh đạo cấp cao của Đảng, nhà nước tới thăm trường như Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị
Doan, nguyên PCT nước Trương Mĩ Hoa, Phó Bí thư thường trực TW Đảng Đinh Thế Huynh. Trong mỗi lần thăm trường, lãnh đạo Đảng, nhà nước đều nhấn mạnh: nhà trường không chỉ tập trung giáo dục văn hóa mà còn phải coi trọng giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho các thế hệ học sinh.
2.3.2. Trước thực trạng đáng buồn mà chúng ta phải thẳng thắn nhìn nhận đó là sự mai một, lai tạp các giá trị văn hóa truyền thống, đặc biệt là trong giới trẻ hiện nay, các em đang đánh mất dần những thuần phong mĩ tục, chạy theo lối sống lai căng, đua đòi, hưởng thụ, thờ ơ trước những giá trị văn hóa của dân tộc. Thực trạng này cũng đang diễn ra tại ngôi trường mà tôi đang giảng dạy. Trong hơn 10 năm gắn bó với biết bao thế hệ học sinh, tôi nhận thấy càng thế hệ sau sự hiểu biết về các giá trị văn hóa dân tộc càng giảm sút. Các em không sử dụng thậm chí là không biết ngôn ngữ của chính dân tộc mình, nhất là học sinh dân tộc phía Bắc (Thái, Tày, Nùng…); không biết hoặc biết rất mơ hồ về phong tục tập quán của dân tộc mình như: lễ hội, các làn điệu dân ca, nghi thức trong ma chay, cưới hỏi…; ngay cả trong cuộc sống hàng ngày, các em cũng rất ít, gần như không mặc, trang phục truyền thống của dân tộc mình.
Từ quá trình dạy dỗ, gắn bó với các em qua công tác giảng dạy, đặc biệt là chủ nhiệm, tôi nắm được sơ bộ về nguyên nhân dẫn đến hiện trạng trên:
Thứ nhất, xuất phát từ nếp nghĩ của bản thân, các em luôn tự ti, mặc cảm bản thân là người dân tộc thiểu số, không văn minh, không đẹp nên không muốn mặc trang phục dân tộc và sử dụng tiếng mẹ đẻ vì không muốn mọi người xung quanh gọi là “người dân tộc”. Bên cạnh đó, trang phục dân tộc thường vướng víu, bất tiện, không hợp mốt lại phải rất tốn công sức, tiền bạc mới có được một
bộ (nhất là trang phục thổ cẩm, váy áo của người Mông…).
Thứ hai, trong quá trình chung sống với nhiều dân tộc khác nhau nên ảnh hưởng cách sống, cách nghĩ của nhau, đặc biệt là gia đình của chính các em cũng không coi trọng việc giáo dục con em mình giữ gìn và phát huy những bản sắc dân tộc.
Thứ ba, là những ảnh hưởng, tác động quá lớn của lối sống hiện đại đặc biệt là công nghệ thông tin, sự cám dỗ, hấp dẫn của mạng xã hội, trò chơi điện tử, phim ảnh không lành mạnh.
Thứ tư, là môi trường giáo dục nhà trường chưa đồng bộ trong việc giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh, giáo viên chủ yếu tập trung vào chuyên môn và cũng không chú trọng nghiên cứu, tìm hiểu các phong tục tập quán, bản sắc văn hóa của các dân tộc để giáo dục học sinh; trong công tác chủ nhiệm thường chỉ chú trọng khâu quản lý, nhắc nhở học sinh học tập, duy trì nề nếp thực hiện kế hoạch, nội quy của nhà trường… chứ không coi trọng công tác giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh.
3. Giải pháp, cách thức giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh THPT qua công tác chủ nhiệm
Trong môi trường giáo dục nhà trường, giáo viên chủ nhiệm là đối tượng gần gũi nhất với học sinh, là người trực tiếp quản lý, điều hành các hoạt động của lớp học. Hơn 12 năm công tác thì có tới 9 năm làm công tác chủ nhiệm, từ thực tiễn áp dụng của bản thân, tôi mạnh dạn chia sẻ những giải pháp và cách thức trong giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh, cụ thể như sau:
3.1. Chú trọng giáo dục ý thức giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh
Sự mai một các giá trị văn hóa, bản sắc dân tộc cũng xuất phát từ ý thức của mỗi con người, cho nên làm công tác chủ nhiệm, giáo viên phải chú trọng việc giáo dục ý thức cho học sinh. Trước hết, cần giúp các em hiểu giá trị của mỗi dân tộc, ý nghĩa của các giá trị truyền thống, nét đẹp văn hóa truyền thống; giáo dục các em phải luôn tự tôn, tự hào về những bản sắc rất riêng của dân tộc mình; phân biệt rõ cho các em hiểu thế nào là sự tiếp thu học hỏi để làm phong phú văn hóa và thích nghi với cuộc sống, thế nào là sự lai căng, pha tạp không cần thiết. Việc giáo dục ý thức cho các em không được hời hợt, có lệ mà phải thường xuyên, từ từ. Đối với giáo viên trường DTNT thuận lợi hơn, bởi không chỉ qua các tiết sinh hoạt hay 15 phút đầu giờ mà còn gặp gỡ các em qua các buổi chiều, tối tự học. Chúng ta không tuyên truyền bằng lý thuyết suông mà cần phải khéo léo đề ra quy định hoặc nhắc nhở các em thực hiện, chẳng hạn đề ra quy định thứ 2 với thứ 7 trong tuần các em phải mặc trang phục dân tộc, muốn vậy bản thân giáo viên chủ nhiệm cũng phải làm mẫu, cũng phải mặc áo dài đến trường. Đồng thời, giúp học sinh thấy được trang phục truyền thống của mỗi dân tộc không phải ngẫu nhiên xuất hiện và tồn tại mà được tạo ra dần trong suốt quá trình hình thành, tồn tại và phát triển qua chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước. Nó là thứ văn hóa ” tinh túy” được chắt lọc trong quá trình ứng xử của con người, trong quan hệ tương tác

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

10;11;12
Chủ nhiệm
4.5/5
TÀI LIỆU WORD

100.000 

Theo dõi
Thông báo của
guest
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
Set your categories menu in Theme Settings -> Header -> Menu -> Mobile menu (categories)
Shopping cart

KẾT NỐI NGAY VỚI KIẾN EDU

Chúng tôi luôn sẵn sàng lắng nghe và đưa ra giải pháp phù hợp nhất cho vấn đề của bạn.

0886945229

Email

kienedu.com@gmail.com

Đây chỉ là bản XEM THỬ - khách hàng vui lòng chọn mua tài liệu và thanh toán để nhận bản đầy đủ

TẢI TÀI LIỆU

Bước 1: Chuyển phí tải tài liệu vào số tài khoản sau với nội dung: Mã tài liệu

Chủ TK: Ngô Thị Mai Lan

STK Agribank: 2904281013397 Copy
* (Nếu khách hàng sử dụng ngân hàng Agribank thì chuyển tiền vào STK Agribank để tránh bị lỗi treo giao dịch)
STK TPbank: 23665416789 Copy
tài khoản tpbank kienedu

Bước 2: Gửi ảnh chụp giao dịch vào Zalo kèm mã tài liệu để nhận tài liệu qua Zalo hoặc email

Nhắn tin tới Zalo Kiến Edu (nhấn vào đây để xác nhận và nhận tài liệu!)