SKKN Giáo dục kỹ năng ứng phó với bắt nạt trực tuyến cho học sinh thpt miền núi

4.5/5

Giá:

100.000 đ
Cấp học: THPT
Môn: Chủ nhiệm
Lớp:
Bộ sách:
Lượt xem: 309
File:
TÀI LIỆU WORD
Số trang:
64
Lượt tải:

10

Sáng kiến kinh nghiệm SKKN Giáo dục kỹ năng ứng phó với bắt nạt trực tuyến cho học sinh thpt miền núi triển khai gồm các biện pháp nổi bật sau:

– Tuyên truyền giáo dục để nâng cao nhận thức về BNTT và thực hành kĩ năng ứng phó với BNTT cho HS thông qua hoạt động ngoại khóa
– Thành lập trang Facebook “Bắt nạt trực tuyến- THPT Tương Dương 1”; mở kênh tư vấn, hỗ trợ online; thiết lập kênh thông
– Xây dựng chuyên đề tư vấn tâm lí thực hiện trong giờ sinh hoạt lớp

 

Mô tả sản phẩm

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lí do chọn đề tài
Thực hiện Nghị định số 80/2017/NĐ-CP ngày 17/7/2017 của Chính phủ quy định môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, thân thiện, phòng, chống bạo lực học đường (BLHĐ); Quyết định số 1299/QĐ-TTg ngày 3/10/2018 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Xây dựng văn hóa ứng xử trong trường học giai đoạn 2018 – 2025”; Quyết định số 5886/QĐ-BGDĐT ngày 28/12/2017 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Chương trình hành động phòng, chống BLHĐ trong các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên giai đoạn 2017-2021 có mục tiêu “đảm bảo môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh thân thiện, chủ động phòng ngừa phát hiện, ngăn chặn và kịp thời xử lí các hành vi vi phạm nhằm giảm thiểu bạo lực học đường”. Một hình thức mới của bắt nạt học đường là bắt nạt trực tuyến hiện đang là vấn đề nổi cộm và đáng lo ngại trong thế kỷ XXI.
Trong bối cảnh dịch Covid-19 diễn biến phức tạp như thời gian vừa qua, hình thức học trực tuyến trở thành một giải pháp tối ưu nhằm thực hiện khẩu hiệu: Học sinh ngừng đến trường nhưng không ngừng học. Máy tính, điện thoại thông minh kết nối mạng trở thành công cụ học tập thiết yếu để duy trì việc học. Thời gian truy cập internet của học sinh tăng lên gây nhiều khó khăn trong việc kiểm soát những hệ lụy kèm theo. Thực tế trong quá trình giảng dạy và giáo dục, chúng tôi nhận thấy hiện tượng bắt nạt online đã trở nên khá phổ biến trong giới học sinh. Thay vì việc bắt nạt diễn ra ở trường, học sinh bắt đầu sử dụng công nghệ như máy tính và điện thoại di động để bắt nạt lẫn nhau. Đây là hình thức bắt nạt vô cùng nguy hiểm bởi hậu quả để lại không chỉ là những vết thương trên thân thể như bắt nạt thông thường, nó tác động đến mối quan hệ xã hội, học tập, gây ra sự tổn thương tâm lí, tinh thần, nghiêm trọng hơn là có thể ảnh hưởng đến cả tính mạng của học sinh.
Độ tuổi HS trung học phổ thông nằm trong giai đoạn thanh niên. HS vẫn còn dễ bị tác động, muốn thể hiện cái tôi cá nhân. Nhu cầu tôn trọng, được tôn trọng, được bình đẳng với mọi người và nhu cầu chứng tỏ bản thân trong giao tiếp và học tập là những nhu cầu quan trọng và phổ biến ở thanh niên học sinh. Chính vì vậy đây là lứa tuổi có những diễn biến phức tạp về hành vi. Một số hành vi lệch chuẩn xuất hiện nhằm thỏa mãn các nhu cầu của HS.
Đặc biệt ở đối tượng học sinh THPT miền núi, thuộc vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, phần lớn là con em đồng bào dân tộc thiểu số . Các em có nhiều hứng thú với vấn đề mới của cuộc sống nhưng lại hạn chế về giao tiếp, khả năng phán đoán chưa cao, tính thích ứng với môi trường chưa tốt, thụ động với vấn đề cuộc sống đặt ra, thiếu hụt kỹ năng sống cơ bản … nên khi gặp phải tình huống bắt nạt trực tuyến, học sinh rất khó khăn để ứng phó. Nhiều em trở thành nạn nhân của hiện tượng bắt nạt trực tuyến trong một thời gian dài gây ảnh hưởng không nhỏ đến tâm lí và kết quả học tập. Điều đó cho thấy vấn đề tư vấn, hỗ trợ, giáo dục học sinh những kĩ năng ứng phó với bắt nạt trực tuyến cần được nhận thức đúng đắn và triển khai kịp thời trong trường học. Đồng thời cần sự chung tay của các bậc phụ huynh và các cơ quan chức năng để các em không còn đơn độc khi bản thân gặp phải tình huống bị bắt nạt online.
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Giáo dục kỹ năng ứng phó với bắt nạt trực tuyến cho học sinh THPT miền núi”.
2. Mục đích của đề tài
Giáo dục kỹ năng ứng phó với bắt nạt trực tuyến cho học sinh THPT Tương Dương 1.
3. Đối tượng nghiên cứu
Tìm hiểu, nghiên cứu về thực trạng và những biện pháp hữu hiệu giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THPT miền núi Tương Dương nhằm trang bị cho các em kỹ năng ứng phó với vấn nạn bắt nạt trực tuyến.
4. Phương pháp nghiên cứu
– Nghiên cứu các vấn đề lý luận liên quan đến vấn nạn bắt nạt trực tuyến ở đối tượng học sinh THPT.
– Điều tra, phỏng vấn, khảo sát, phân tích, kiểm tra đánh giá, đối chiếu kết quả.
– Tổ chức các hoạt động giáo dục: thông qua hoạt động trải nghiệm dưới các hình thức phong phú như trong các tiết sinh hoạt lớp, sinh hoạt 15 phút, hoạt động ngoại khóa, các cuộc thi, sử dụng mạng xã hội…
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
Chỉ ra cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của đề tài nghiên cứu. Làm rõ một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác giáo dục kỹ năng ứng phó với bắt nạt trực tuyến cho học sinh THPT miền núi Tương Dương. Phân tích, đánh giá thông qua các mô hình, diễn đàn, tổ tư vấn tâm lí, tuyên truyền dưới nhiều hình thức.
6. Những đóng góp của đề tài.
– Trình bày, nghiên cứu lý luận, thực trạng, nhận diện các hình thức và biểu hiện của bắt nạt trực tuyến nhìn từ mặt trái của các trang mạng xã hội. Từ đó đề xuất, tiếp cận một số giải pháp và cách làm mang lại hiệu quả trong công tác giáo dục kỹ năng ứng phó với bắt nạt trực tuyến cho học sinh trường THPT miền núi Tương Dương. – Từ nhận thức vai trò quan trọng của công tác tư vấn tâm lý học đường trong việc duy trì và ổn định trạng thái tâm lý học sinh, giúp các em tư duy, suy nghĩ và nhìn nhận vấn đề xung quanh một cách đúng đắn để đi vào thực hành các giải pháp cụ thể giáo dục kỹ năng ứng phó với vấn nạn bắt nạt trực tuyến cho học sinh tại đơn vị công tác, đã góp phần thực hiện một mục tiêu giáo dục là phòng, chống bạo lực học đường.
– Thiết kế chuyên đề thực hiện thông qua hoạt động trải nghiệm dưới các hình thức phong phú như: trong các tiết sinh hoạt lớp, sinh hoạt 15 phút, hoạt động ngoại khóa, cuộc thi về các chủ đề liên quan đến nội dung ứng phó với bắt nạt trực tuyến cho học sinh.

PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
1. Cơ sở lý luận
1.1. Những khái niệm chung
1.1.1. Bắt nạt trực tuyến
Bắt nạt trực tuyến là hình thức sử dụng thiết bị công nghệ như điện thoại thông minh, máy tính, các phương tiện kết nối kĩ thuật số để gửi và đăng tải những tin nhắn, hình ảnh có hại hoặc ác ý, xúc phạm hay đe dọa ai đó thông qua các công cụ liên lạc điện tử như gmail (thư điện tử), điện thoại hay các trang web, trực tiếp cho nạn nhân hay gián tiếp cho người khác, chuyển thông tin liên lạc bí mật hoặc hình ảnh của nạn nhân cho người khác xem một cách công khai. Ngoài ra, BNTT là tình huống mà một ai đó có chủ đích, quấy rầy lặp đi lặp lại, lấy ra làm trò đùa, đối xử tàn tệ với một người khác trên phương tiện truyền thông xã hội, qua tin nhắn hay những con đường trực tuyến khác.

Hình 1. Minh họa khái niệm BNTT
Bắt nạt trực tuyến thường xảy ra ở:
– Các ứng dụng mạng xã hội, chẳng hạn như Facebook, Instagram, Twitter, v.v.
– Tin nhắn văn bản (SMS).
– Tin nhắn tức thời (những ứng dụng chat trong email, ứng dụng nhắn tin như Zalo, Viber, Whatsapp, Messenger của Facebook).
– Thư điện tử (Email).
1.1.2. Ứng phó
Theo từ điển thuật ngữ Tiếng Việt: Ứng phó là đối phó nhanh nhạy, kịp thời
với những tình huống mới, bất ngờ. Ví dụ: ứng phó với mọi âm mưu của địch, ứng phó với tình hình mới.
Ứng phó với bắt nạt trực tuyến là sự tương tác, đối mặt, giải quyết vấn đề của nạn nhân khi bị một người hoặc một nhóm người (thủ phạm) thực hiện hành vi bắt nạt thông qua các tiện ích và ứng dụng trên internet hướng tới việc làm tổn thương tinh thần, tâm lí của họ một cách có chủ ý, lặp đi lặp lại và có thái độ đe dọa, thù địch.
1.2. Nhận diện các hình thức và biểu hiện của bắt nạt trực tuyến 1.2.1. Các hình thức bắt nạt trên mạng

Hình 2. Các hình thức BNTT
Quấy rối: Là hình thức bao gồm các hành động như: gửi các thông điệp công kích, thô lỗ, và tin nhắn xúc phạm hay để bạo hành, lạm dụng. Viết những bình luận, bức hình làm khó chịu hay gây xấu hổ trong các phòng trò chuyện trên mạng. Gây khó chịu rõ ràng cho người chơi khác trên các trang mạng chơi game…
Phỉ báng: Là khi một người nào đó gửi các thông tin giả mạo, gây tổn hại và không đúng sự thật về người khác. Chia sẻ hình ảnh về một người nào đó với mục đích chế giễu, lan truyền các tin đồn và lời thị phi không đúng sự thật. Điều này có thể diễn ra trên bất cứ trang mạng hay ứng dụng nào. Chúng ta thường chứng kiến những người hay gửi các hình ảnh về người khác và đăng các bài viết lên mạng với mục đích bắt nạt.
Gây đau khổ: Điều này diễn ra khi một người nào đó cố tình sử dụng ngôn ngữ khắc nghiệt và công kích và tiến hành các cuộc chiến tranh luận trên mạng. Những kẻ đó làm điều này để mong thấy sự phản ứng và hưởng thụ khi việc làm này gây đau khổ cho người khác.
Mạo danh: Là khi một người nào đó đột nhập vào tài khoản email hoặc mạng xã hội của ai đó và sử dụng danh tính trên mạng (vừa đột nhập) để gửi hay đăng các tin khiêu dâm phóng đãng, hoặc các tài liệu (bài viết, hình ảnh, đoạn ghi âm, video clips…) đáng xấu hổ cho người khác. Nó cũng có thể là việc lập một trang/hồ sơ giả mạo trên các trang mạng xã hội, ứng dụng và những nơi trên mạng khác, điều này thực sự rất khó khăn để dẹp bỏ.
Phát tán và lừa đảo: Là khi một ai đó chia sẻ các thông tin cá nhân hoặc lừa đảo để lấy các thông tin bí mật rồi chuyển tiếp cho người khác. Chúng cũng có thể làm điều này với những hình ảnh và video riêng tư.
Bám theo trên mạng: Là hành động lặp đi lặp lại việc gửi các thông điệp, tin nhắn bao gồm: đe dọa làm tổn thương, các tin nhắn quấy rối và đe dọa, hoặc tham gia vào các hoạt động trực tuyến khác, làm cho một người lo sợ cho sự an toàn của bản thân. Những hành động này có thể là bất hợp pháp, phụ thuộc vào việc họ làm là gì.
Loại bỏ, cô lập: Điều này là khi một ai đó cố ý loại bỏ một ai đó khỏi nhóm chẳng hạn như nhóm nhắn tin chung, những ứng dụng trên mạng, các trang mạng chơi game, và những hình thức tham gia trên mạng khác. Đây cũng là dạng bắt nạt trên mạng rất phổ biến.
1.2.2. Biểu hiện của bắt nạt trực tuyến
Đối với trường học và đời sống xã hội: – Học sinh không muốn đến trường.
– Điểm số học tập ngày càng thấp.
– Không muốn gặp gỡ bạn bè.
– Không muốn tham gia các hoạt động thể thao, trường lớp thông thường.
– Luôn tránh các cuộc tụ họp nhóm.
Đối với thói quen sử dụng công nghệ:
– Thường xuyên buồn bã trong và sau khi sử dụng Internet.
– Dành nhiều thời gian trực tuyến hơn bình thường, hoặc không muốn sử dụng máy tính, điện thoại di động.
– Nếu thấy bố mẹ đi qua thì lập tức gập máy tính, hoặc thoát các trình duyệt web đang mở.
Đối với cảm xúc và hành vi:
– Thường xuyên ủ rũ, buồn bã.
– Có sự thay đổi rõ rệt trong hành vi như hay đi ngủ muộn, mất ngủ, hay thèm ăn.
– Hay tức giận khi ở nhà.
– Luôn cảm thấy ốm yếu, đau đầu hoặc đau dạ dày thường xuyên. Đây là các dấu hiệu của bệnh trầm cảm.
1.3. Những tác động của bắt nạt trên mạng đến sức khỏe thể chất và tinh thần
Bắt nạt qua mạng thường để lại nhiều hậu quả nặng nề đặc biệt là đối với thanh thiếu niên. Nó có thể dẫn tới rối loạn lo âu, rối loạn trầm cảm, tự làm đau bản thân (self-harm) và thậm chí tự tử. Nạn nhân thường thiếu tự tin và tổn thương sự tự trọng nặng nề, có cảm giác sợ hãi, buồn bã, tức giận nhiều hơn sau khi bị bắt nạt. Chưa kể, một khi đã xuất hiện trên mạng thì những nội dung như vậy thường lưu lại rất lâu sau đó và rất khó để thoát khỏi nó. Nỗi đau gây ra bởi bắt nạt qua mạng là rất lớn và không thể lường trước được.

Hình 3. Minh họa hậu quả của BNTT
1.4. Một số đặc điểm tâm sinh lý của học sinh THPT
Ở mỗi độ tuổi khác nhau thì đặc điểm tâm sinh lý cũng có sự khác biệt rõ rệt. Việc hiểu rõ đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển của chất lượng giáo dục, mà trong đó giáo viên là nhân tố quan trọng nhất.
1.4.1. Đặc điểm về nhận thức
HS THPT bên cạnh sự phát triển về trí tuệ thì tự ý thức, tự đánh giá cũng phát triển khá cao, đặc biệt là sự phát triển mạnh của tính tự trọng. Tính tự trọng của HS THPT chưa đạt được mức độ cao với những biểu hiện tích cực của nó như: có thái độ tích cực, đúng mực đối với bản thân và biết bảo vệ nhân cách mình một cách phù hợp trong mọi hoàn cảnh. Do đó, có nhiều HS đã bảo vệ nhân cách của mình mang

tính chất cảm tính với những hành vi sai lệch. Một trong số đó là những hành vi bạo lực. Tính tự trọng phát triển cũng là một trong những nhân tố tạo nên tâm lý bốc đồng ở HS lứa tuổi này. Tâm lý bốc đồng là điểm yếu làm cho HS dễ bị kích động bởi người khác. Đó cũng là một trong những nguyên nhân dễ dẫn đến hành vi bạo lực ở HS.
1.4.2. Đặc điểm ý chí của học sinh trung học phổ thông
Học sinh có xu hướng bộc lộ rõ nét nhân cách và phẩm chất, cường độ ý chí phát triển ở mức độ cao hơn. Biểu hiện:
Thứ nhất, các em nỗ lực hết mình để đạt được ước mơ, hoài bão của bản thân.
Thứ hai, các em có định hướng rõ ràng trong lựa chọn nghề nghiệp.
Tuy nhiên, bên cạnh các em học sinh có ý chí học tập, ý chí quyết tâm cao vẫn tồn tại những học sinh thụ động và không có định hướng.
1.4.3. Đặc điểm về tình cảm – cảm xúc
Ở độ tuổi từ 15-18, các em có sự phát triển về sinh lý với một số biểu hiện như dậy thì, thay đổi hooc môn, thiếu niên có xu hướng tăng hưng phấn nhẹ hoặc căng thẳng xúc cảm. Sự phát triển về sinh lý dẫn đến sự thay đổi nhất định về tâm lý. Ở lứa tuổi này các em còn hình thành những quan điểm sống riêng biệt, biết bảo vệ lẽ phải và cái đẹp; phê phán những điều sai trái.
Tình cảm của HS THPT thường biểu hiện tính tự lập, cho rằng người lớn thường không đánh giá đúng, nghiêm túc những điều họ nghĩ, những việc họ làm cũng như sự trưởng thành của họ. Bởi vậy, lứa tuổi này thường dễ có xu hướng xa lánh người lớn và tìm sự đồng tình, đồng cảm ở các bạn cùng lứa tuổi. Đặc điểm này cùng với sự phát triển của tính tự trọng chưa cao làm cho HS THPT thiếu tự chủ và thường chịu sự tác động từ bạn bè hơn là từ người lớn. Đó cũng là một trong những nguyên nhân dễ xảy ra những vụ bạo lực học đường, BNTT ở HS THPT khi bị bạn bè kích động. Hơn nữa, ở HS THPT còn có nhu cầu được kính nể, ngưỡng mộ.
1.4.4. Đặc điểm về nhân cách
Sự tự ý thức là một đặc điểm nổi bật trong sự phát triển nhân cách của HS THPT, được biểu hiện ở nhu cầu tìm hiểu và tự đánh giá những đặc điểm tâm lý của mình theo các chuẩn mực đạo đức của xã hội, quan điểm về mục đích của cuộc sống. Điều này khiến học sinh quan tâm sâu sắc tới đời sống tâm lý, những phẩm chất nhân cách và năng lực riêng, cũng như tự đánh giá khả năng của mình.
Giai đoạn này HS không chỉ tự ý thức về cái tôi của mình mà còn nhận thức vị trí của mình trong tương lai. Xuất hiện khuynh hướng phân tích và tự đánh giá bản thân một cách độc đáo, tìm cách để người khác quan tâm mình và tìm điều gì đó nổi bật. Học sinh THPT có nguyện vọng thể hiện cá tính của mình trước người khác, tìm cách để người khác quan tâm đến mình hoặc làm điều gì đó nổi bật. Chính vì vậy, không ít trường hợp các em vì muốn thể hiện cái tôi cá nhân mà bất chấp việc làm tổn thương người khác. Một trong số đó là hành vi BNTT.
1.5. Một số đặc điểm của học sinh THPT miền núi
Bên cạnh những đặc điểm chung về tâm sinh lí lứa tuổi THPT, HS miền núi lại mang những đặc điểm riêng về tính cách. Qua nghiên cứu và trực tiếp giảng dạy, tiếp xúc, chúng tôi nhận thấy HS miền núi có những đặc điểm sau:
Học sinh dân tộc thiểu số có ưu điểm về thể chất, thể lực, có tính cách riêng, yêu lao động, quý thầy cô, tình bạn, trung thực, dũng cảm. Tuy nhiên, các em lại rụt rè, nhút nhát, tự ti, tự ái, thiếu ý chí phấn đấu, ít có ước mơ, hoài bão. Tính tự ti cộng với khả năng diễn đạt tiếng phổ thông còn hạn chế tạo cho các em tâm lí khó hoà đồng. Đồng thời học sinh dân tộc có tính tự ái cao, nếu các em gặp phải những lời phê bình nặng nề hoặc khi kết quả học tập kém, quá thua kém bạn bè một vấn đề nào đó trong sinh hoạt, bị dư luận, bạn bè chê cười … các em dễ xa lánh thầy cô giáo và bạn bè hoặc bỏ học. Vì thế, nếu bị BNTT các em dễ nảy sinh những suy nghĩ và hành động ứng phó theo bản năng
Học sinh miền núi luôn có tính thẳng thắn, thật thà và tự trọng. Các em học sinh miền núi có gì không vừa ý thường tỏ thái độ ngay. Như khi bị người khác nói xấu, xuyên tạc sự thật về mình trên mạng các em thường phản ứng lại mà thiếu sự suy xét thấu đáo. Vì vậy, GV cần nắm vững đặc điểm này, thận trọng trong quá trình đánh giá phẩm chất đạo đức của từng em. Nếu GV không hiểu rõ thì có thể cho rằng các em hay tự ái. Từ đó GV thiếu nhiệt tình cần thiết để tìm ra phương hướng và biện pháp giải quyết những khó khăn của các em.
Học sinh luôn có niềm tin sâu sắc vào GV và thực tiễn. Các em thường dễ dàng nghe theo những người mình đã tin cậy, đặc biệt là GV. Khi các em đã tin GV, các em thường quyết tâm thực hiện cho được những công việc GV giao, nhiều khi các em còn bắt chước tác phong, cử chỉ, ngôn ngữ,.. của GV. Vì vậy, GV phải luôn gần gũi, đi sâu, đi sát giúp đỡ các em, cố gắng cảm hoá các em bằng sự tận tình chăm sóc của mình; đồng thời cũng cố gắng gương mẫu về mọi mặt để dành cho được sự tin yêu của các em, từ đó phát huy tác dụng giáo dục của mình. Trong vấn đề sử dụng mạng xã hội, GV trước hết phải chuẩn mực về ngôn ngữ, ứng xử có văn hóa, biết lan tỏa những điều tích cực.
Các em sống rất thực tế, những điển hình gần gũi đều có tác dụng thuyết phục rất lớn. Trong các tiết lên lớp, những vấn đề kiến thức có liên hệ thực tế đến bản thân học sinh thì sẽ sôi nổi và hiệu quả. Do đó GV cần lưu ý việc lồng ghép các nội dung giáo dục thực tế và kĩ năng sống vào trong các bài học và các hoạt động giáo dục tạo ra những tình huống cụ thể để hướng dẫn HS. Từ đó hình thành cho HS khái niệm về phẩm chất đạo đức tốt, đồng thời khắc phục dần những tàn dư lạc hậu còn rơi rớt trong nhận thức của một số em.
Học sinh con em đồng bào các dân tộc miền núi đến trường với lòng ham học hỏi, niềm tin sâu sắc về tương lai phía trước. GV cần nắm vững một số đặc điểm tâm lí của học sinh miền núi, con em đồng bào dân tộc ở vùng sâu, vùng xa để hoạt động giáo dục HS phát huy hiệu quả cao hơn. Nhất là trong việc trang bị cho các em những kĩ năng sống cần thiết.
1.6. Vai trò của GVCN trong giáo dục kĩ năng ứng phó với BNTT cho HS Có thể thấy, GVCN có vai trò vô cùng quan trọng trong việc giáo dục, hình thành nhân cách HS. GVCN là người trực tiếp quản lí và giáo dục HS trong quá trình học tập, rèn luyện. Đặc biệt ở là miền núi, HS phần lớn ở trọ xa gia đình thì GVCN đóng vai trò như người cha, người mẹ không chỉ dạy học, giáo dục HS trên lớp học mà còn giáo dục HS trên mọi phương diện cuộc sống. Trước hết là giáo dục HS những kĩ năng sống cơ bản để các em có thể tự bảo vệ được bản thân trong mọi hoàn cảnh. Vì thế, trong hoạt động giáo dục kĩ năng ứng phó với BNTT cho HS THPT Tương dương 1, GVCN đóng vai trò chủ chốt trong việc triển khai các giải pháp một cách sâu sát, liên tục và đồng bộ.
Để thực hiện tốt vai trò hướng dẫn HS ứng phó với BNTT, ngay từ đầu năm học, GVCN được nhà trường giao nhiệm vụ và được hỗ trợ về thể chế, qui định như đưa ra nội quy, quy định sử dụng mạng xã hội và xử phạt nghiêm khắc học sinh có hành vi BNTT. GVCN là người đứng ra tuyên truyền giáo dục hướng dẫn các kiến thức và kĩ năng ứng phó về BNTT, thiết lập hoạt động giám sát, theo dõi, quản lí HS sử dụng mạng xã hội để ngăn ngừa dấu hiệu của BNTT, soạn và đưa chủ đề giáo dục
BNTT vào chương trình giáo dục nhà trường đối với lớp chủ nhiệm, phối hợp với nhà trường, phụ huynh, cơ quan pháp luật xử lí hành vi BNTT.
GVCN trực tiếp thành lập các nhóm lớp, nhóm Phụ huynh lớp để phổ biến các nội dung liên quan đến vấn nạn BNTT, góp phần vào hoạt động tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức và kĩ năng ứng phó BNTT cho HS và PH.
GVCN tổ chức hướng dẫn thực hành kĩ năng ứng phó BNTT cho HS với các nội dung: Tổ chức lớp học hướng dẫn HS sử dụng mạng an toàn.Với tình huống BNTT xảy ra trong phạm vi lớp chủ nhiệm, GVCN hướng dẫn HS liên quan thực hiện theo các hành vi để bảo vệ mình:
– Không đáp trả bất kì hành vi BNTT nào.
– Báo cáo hành vi và đối tượng BN với gia đình, thầy cô giáo.
– Lưu giữ, ghi nhật kí (In email, chụp màn hình những tin nhắn đoạn chat mạng, ghi chép lại ngày giờ và những người liên quan).
– Chặn tắt thông báo từ kẻ bắt nạt, không sử dụng điện thoại, có thể nhờ sự giúp đỡ của chuyên gia tâm lý, báo cáo cơ quan chức năng có thẩm quyền.
Khi phát hiện dấu hiệu BNTT và bị BNTT từ HS, GVCN chủ động liên lạc với HS đề nghị sự hỗ trợ cho HS giải quyết vấn đề, giám sát các đối tượng liên quan (Nạn nhân, thủ phạm, người liên quan), kiểm soát tình hình diễn biến của hành vi

BNTT để có biện pháp ngăn ngừa và bảo vệ HS, theo dõi, giám sát những tài khoản trên ứng dụng mạng xã hội liên quan đến các đối tượng BNTT. GVCN gặp gỡ và đối thoại với các đối tượng. GVCN trực tiếp tham gia, xử lí BNTT trong quá trình giải quyết vấn đề BNTT cho HS với nhà trường- gia đình- các cơ quan tổ chức có thẩm quyền.
2. Thực trạng biểu hiện của hành vi bắt nạt trực tuyến của học sinh trường THPT Tương Dương 1
Để tìm hiểu về thực trạng biểu hiện của hành vi bắt nạt trực tuyến của học sinh ở trường THPT Tương Dương 1, chúng tôi đã tiến hành khảo sát bằng phiếu điều tra.
Nội dung khảo sát: Mức độ bị BNTT và cách ứng phó của HS trường THPT Tương Dương 1.
Đối tượng khảo sát: 400 HS khối 10, 11, 12 trường THPT Tương Dương 1.
Thời gian khảo sát: Từ tháng 9/2021 đến tháng 10/2021.
Phiếu khảo sát HS (trong phần Phụ lục 01 và 02).
Sau khi thu thập, phân tích, tổng hợp cho kết quả như sau:
2.1. Khảo sát mức độ bị BNTT của HS trường THPT Tương Dương 1 Bảng 1. Mức độ bị BNTT của HS trường THPT Tương Dương 1
Mức độ bị bắt nạt trực tuyến Số lượng (HS) Tỷ lệ (%)
Chưa từng bị bắt nạt 139 35
Thỉnh thoảng bị bắt nạt bởi ít nhất 1 hình thức 205 51
Thường xuyên bị bắt nạt bởi ít nhất 1 hình thức 56 14

Hình 4. Biểu đồ mức độ bị BNTT của HS trường THPT Tương Dương 1
Kết quả khảo sát cho thấy: Trong tổng số 400 HS, có 261 em đã từng là nạn nhân của BNTT chiếm tỷ lệ 65%, có 139 em cho rằng chưa từng bị BNTT chiếm tỷ lệ 35%. Đây là một con số đáng báo động nhất là đối với HS THPT miền núi vốn còn thiếu khá nhiều kĩ năng sống cơ bản. Chính vì thế rất cần sự vào cuộc của Nhà trường, gia đình cũng như toàn thể xã hội để có những chiến lược giúp các em ứng phó với nạn BNTT đang diễn ra hiện nay.
2.2. Khảo sát cách ứng phó khi bị BNTT của HS THPT Tương Dương 1
Bảng 2. Cách ứng phó khi bị BNTT của HS THPT Tương Dương 1
Cách ứng phó Nội dung Số lượng Tỷ lệ (%)
Bằng cách chia sẻ – Kể về việc bị bắt nạt với bố mẹ.
– Tìm kiếm lời khuyên trên mạng.
– Tìm lời khuyên từ bạn bè/ người lớn.
– Kể về việc bị bắt nạt với giáo viên.
– Báo việc này với quản trị trang mạng đó.
– Báo cơ quan chức năng. 132 33
Bằng suy nghĩ nhận thức – Coi đó là chuyện bình thường.
– Những việc như vậy không làm bản thân tổn thương.
– Không để tâm đến.  86 21.5
Bằng cách trả đũa – Làm điều giống hoặc tương tự với người đó qua mạng hoặc điện thoại (bắt nạt lại qua mạng, điện thoại). – Làm điều tương tự với người đó trong cuộc sống thực (bắt nạt trong đời thực).
– Lưu lại bằng chứng của việc bắt nạt để trả thù sau này. 70 17.5
Bằng cách né tránh – Xóa tên người bắt nạt mình trong danh sách liên lạc.
– Xóa hồ sơ cá nhân trên trang web nơi em bị bắt nạt. 112 28
– Chặn tài khoản để người bắt nạt không liên lạc được với mình nữa.

Hình 5. Biểu đồ cách ứng phó khi bị BNTT của HS THPT Tương Dương 1
Kết quả khảo sát cho thấy: Khi bị BNTT, các em lựa chọn một trong các cách sau:
Thứ nhất, HS ứng phó bằng cách chia sẻ: Đây là cách ứng phó mang tính tích cực, được các em lựa chọn nhiều nhất (33%), phù hợp tâm lí phổ biến của HS THPT. Mặc dù các em ở lứa tuổi này có biểu hiện của tính tự lập nhưng phần lớn các em vẫn chưa tự mình giải quyết được những vấn đề tiêu cực tác động đến bản thân. Các em thường có xu hướng tìm kiếm sự đồng cảm, giúp đỡ từ bố mẹ, thầy cô, bạn bè, các cấp quản lí, cơ quan chức năng để tìm cách thoát ra khỏi tình huống bị BNTT.
Thứ hai, HS ứng phó bằng cách né tránh: Số HS lựa chọn cách ứng phó này xếp thứ hai (28%) trong bốn cách ứng phó khi bị BNTT. Cách này thường được nhóm HS có tính cách hướng nội lựa chọn bởi các em muốn tự mình giải quyết vấn đề, không muốn làm phiền đến người khác hay không muốn người khác quan tâm đến rắc rối của mình. Với các em việc xóa tên người bắt nạt trong danh sách liên lạc, hủy kết bạn, chặn một tài khoản,… thực sự không quá khó khăn. Tuy nhiên, đây không phải là cách ứng phó tốt nhất vì không giúp các em giải quyết vấn đề triệt để.
Thứ ba, HS ứng phó bằng suy nghĩ nhận thức: Cách ứng phó này xếp thứ ba trong các cách ứng phó khi bị BNTT của HS THPT (21,5%). HS lựa chọn cách này thường đã khá trưởng thành trong suy nghĩ, nhận thức. Chính vì thế những hành vi BNTT không tác động nhiều đến tâm lí các em. Các em coi BNTT là chuyện bình thường, không để tâm đến nên không cảm thấy bị tổn thương. Là một cách ứng phó khá tích cực nhưng số lượng HS chọn cách ứng phó này vẫn chưa nhiều.
Thứ tư, HS ứng phó bằng cách trả đũa: Xếp thứ tư (17,5%) trong các cách ứng phó của HS khi bị BNTT. Đây là một cách ứng phó khá tiêu cực, thường được lựa chọn bởi những HS có tính cách bồng bột, thiếu kiểm soát cảm xúc, hành vi. Các em có thể làm điều giống hoặc tương tự với người đó qua mạng hoặc điện thoại (bắt nạt lại qua mạng, điện thoại), làm điều tương tự với người đó trong cuộc sống thực (bắt nạt trong đời thực), lưu lại bằng chứng của việc bắt nạt để trả thù sau này. Mặc dù số lượng HS ứng phó với BNTT bằng cách trả đũa chưa nhiều nhưng tác động của cách ứng phó này lại rất nghiêm trọng. Hành vi trả đũa không dập tắt được quá trình BNTT mà còn gây ra nhiều hệ lụy kèm theo. Nó tạo hiệu ứng lây lan, dễ phát triển trong môi trường học đường nếu như không có những chiến lược giáo dục kịp thời ngay từ đầu.
Thực tế khảo sát cho thấy, HS lựa chọn ứng phó với BNTT bằng nhiều hình thức khác nhau nhưng vẫn còn xuất phát từ bản năng tự vệ. Phần lớn HS chưa biết ứng phó khi bị BNTT một cách đúng đắn và bài bản. Điều đó cho thấy HS còn thiếu nền tảng kiến thức cơ bản khi tham gia các trang mạng xã hội như sự am hiểu về các điều luật an ninh mạng, bộ quy tắc ứng xử mạng xã hội, văn hóa ứng xử mạng xã hội…Vì vậy  giáo dục cho HS những kĩ năng ứng phó với BNTT là một việc làm hết sức cần thiết nhằm giảm thiểu những cách ứng phó tiêu cực thậm chí là phạm luật của HS khi bị BNTT.
Để xây dựng các giải pháp ứng phó BNTT hiệu quả, trước hết cần tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến sự bùng phát của thực trạng bắt nạt qua mạng
2.3. Nguyên nhân dẫn đến BNTT:
Sự ra đời của internet và các nền tảng mạng xã hội chính là bước đột phá vĩ đại trong thế kỷ 20-21. Các nền tảng mạng xã hội chính là nơi để mọi người gắn kết với nhau và dễ dàng liên lạc mà không bị giới hạn bởi lãnh thổ hay vị trí địa lý. Ngoài ra, mạng xã hội còn giúp tiếp cận nhanh chóng với các tin tức mới, học hỏi, trao đổi kinh nghiệm, kết bạn,…
Bên cạnh những lợi ích mang lại, sự phát triển vượt bậc của các nền tảng số cũng đi kèm với không ít vấn đề. Trong đó, BNTT là tình trạng phổ biến nhất hiện nay. Trước khi đây internet chưa phát triển, các hành vi bắt nạt sẽ được thực hiện trực tiếp. Về sau, các hành vi đe dọa qua mạng có dấu hiệu gia tăng mạnh vì những nguyên nhân sau:
Thứ nhất, do không sợ bị phát hiện: Các hành vi bắt nạt trực tiếp hoặc thực hiện các hành vi đe dọa ẩn danh sẽ tiềm ẩn nguy cơ cao bị phát hiện. Tuy nhiên, các hành vi đe dọa qua mạng sẽ ít có nguy cơ bị phát hiện hơn. Do đó, các đối tượng xấu thường sử dụng số điện thoại hoặc tài khoản ảo để thực hiện các hành vi gây tổn thương người khác. Bắt nạt qua mạng ít bị phát hiện hơn so với bắt nạt trực tiếp.
Vì không sợ bị phát hiện nên bản thân kẻ thực hiện không cảm thấy sợ hãi mà ngược lại còn gia tăng mức độ nghiêm trọng của hành vi với mục đích hạ nhục danh dự, nhân phẩm của nạn nhân. Khi nhận được sự tung hô, kẻ thực hiện thường có xu hướng lặp đi lặp lại những hành vi này để nạn nhân phải sống trong đau khổ và sợ hãi.
Thứ hai, do muốn thể hiện bản thân: Thống kê cho thấy, đa số thủ phạm và nạn nhân của BNTT đều là trẻ vị thành niên và người trẻ tuổi. Ở lứa tuổi này, các hành vi bắt nạt người khác được xem là cách thể hiện bản thân. Ngoài ra, khi thấy những người khác tung hô hành vi bắt nạt và có lời lẽ nhục mạ danh dự của nạn nhân, bản thân kẻ thực hiện sẽ có cảm giác thỏa mãn và dần yêu thích những hành vi này.
Thứ ba, mong muốn đạt được lợi ích, mục đích của bản thân: Ngoài mục đích thể hiện bản thân, các hành vi đe dọa qua mạng còn được thực hiện với mục đích hạ nhục đối phương do thù ghét cá nhân, ganh tị hoặc đôi khi được thực hiện với mục đích tiền bạc (thường là đe dọa tung clip, ảnh nóng và yêu cầu nạn nhân phải đưa một khoản tiền lớn).
3. Các giải pháp giáo dục học sinh THPT miền núi ứng phó với bắt nạt trực tuyến
Trong những năm gần đây, HS miền núi đã có nhiều tiến bộ về mặt nhận thức hơn so với trước. HS có cơ hội tiếp cận sớm với CNTT, internet nhờ vào sự phát triển KT-XH cũng như sự quan tâm của các cấp chính quyền. Tuy nhiên, do điều kiện sống, đặc điểm tâm lí cũng như khả năng đọc-hiểu, nghe-nói tiếng Việt còn nhiều hạn chế nên khi đối mặt với những tình huống bị BNTT vẫn có rất nhiều HS chưa biết cách ứng phó. Việc hướng dẫn cách thức sử dụng Internet, hướng dẫn các kĩ năng ứng phó hợp lí là điều mà HS cần nhất khi vướng phải BNTT.

Những giải pháp chúng tôi đưa ra có sự nghiên cứu kĩ lưỡng với đối tượng là HS miền núi. Chúng tôi sử dụng các giải pháp như tổ chức ngoại khóa tuyên truyền nâng cao nhận thức, thực hành các kĩ năng ứng phó, ứng dụng sức mạnh của công nghệ số trong quá trình giáo dục, phối hợp với BGH, Đoàn trường, Tổ tư vấn tâm lí, các GVCN, bộ môn, Phụ huynh, HS, thiết kế các tiết sinh hoạt chuyên đề… Với HS miền núi nếu chỉ đơn thuần là cung cấp các lí thuyết về BNTT thì các em sẽ khó để tiếp nhận và ghi nhớ. Vì vậy chúng tôi tổ chức cho các em các hoạt động trải nghiệm sáng tạo thông qua các cuộc thi, các trò chơi, thực hành xử lí các  tình huống cụ thể.
Khi được đóng vai là chủ thể các hoạt động đó, các em sẽ ghi nhớ một cách sâu sắc nhất.

 

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

Theo dõi
Thông báo của
guest
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
Set your categories menu in Theme Settings -> Header -> Menu -> Mobile menu (categories)
Shopping cart

KẾT NỐI NGAY VỚI KIẾN EDU

Chúng tôi luôn sẵn sàng lắng nghe và đưa ra giải pháp phù hợp nhất cho vấn đề của bạn.

0886945229

Email

kienedu.com@gmail.com

Đây chỉ là bản XEM THỬ - khách hàng vui lòng chọn mua tài liệu và thanh toán để nhận bản đầy đủ

TẢI TÀI LIỆU

Bước 1: Chuyển phí tải tài liệu vào số tài khoản sau với nội dung: Mã tài liệu

Chủ TK: Ngô Thị Mai Lan

STK Agribank: 2904281013397 Copy
* (Nếu khách hàng sử dụng ngân hàng Agribank thì chuyển tiền vào STK Agribank để tránh bị lỗi treo giao dịch)
STK Vietcombank: 1037627258 Copy
vietcombank

Bước 2: Gửi ảnh chụp giao dịch vào Zalo kèm mã tài liệu để nhận tài liệu qua Zalo hoặc email

Nhắn tin tới Zalo Kiến Edu (nhấn vào đây để xác nhận và nhận tài liệu!)