SKKN Kinh nghiệm hình thành tư duy tích cực và kĩ năng sống cho học sinh lớp 9 qua văn bản Chuyện người con gái Nam Xương

Giá:
50.000 đ
Môn: Ngữ Văn
Lớp: 9
Bộ sách:
Lượt xem: 1126
Lượt tải: 4
Số trang: 29
Tác giả:
Trình độ chuyên môn:
Đơn vị công tác:
Năm viết:
Số trang: 29
Tác giả:
Trình độ chuyên môn:
Đơn vị công tác:
Năm viết:

Sáng kiến kinh nghiệm “SKKN Kinh nghiệm hình thành tư duy tích cực và kĩ năng sống cho học sinh lớp 9 qua văn bản Chuyện người con gái Nam Xương” triển khai gồm các biện pháp nổi bật sau:

Bước 1: Giúp học sinh hiểu rõ giá trị của tác phẩm “ Chuyện người con gái Nam Xương”.
Bước 2: Lựa chọn những nội dung thích hợp để hình thành tư duy tích cực và KNS cho học sinh qua văn bản “ Chuyện người con gái Nam Xương”.

Mô tả sản phẩm

  1. MỞ ĐẦU
  2. Lí do chọn đề tài.

Trong những năm gần đây, chương trình giáo dục ở các cấp học nói chung đều chú trọng hơn đến việc hình thành kĩ năng sống cho học sinh. Riêng đối với bậc học THCS và đặc biệt là học sinh lớp 9, điều này đã đáp ứng được yêu cầu thực tế của giáo dục bởi vì các em đang ở độ tuổi có nhiều biến đổi mạnh mẽ về tâm, sinh lý. Sự lớn lên của cơ thể cộng với những tác động từ nhiều phía khiến các em phải đối diện với những thách thức, khó khăn trong các mối quan hệ với cha mẹ, thầy cô, bạn bè và chính cảm xúc của bản thân các em. Tuổi 14-15 của các em được coi là giai đoạn “nổi loạn”, các em muốn được mọi người xung quanh thừa nhận mình đã trưởng thành, không muốn bị bao bọc trong vòng tay của thầy cô, bố mẹ. Các em có xu hướng thoát ra để tự lập trong khi thực tế các kiến thức cũng như nhận thức, kĩ năng sống của các em chưa đủ để tự làm điều đó. [1] Chính vì thế, giáo dục kĩ năng sống trên nền tảng một tư duy tích cực cho học sinh lớp 9 là rất cần thiết nhằm giúp các em hiểu ra những giá trị đích thực của đời sống, biết sống đẹp, sống có ích trong hiện tại và cả tương lai.

  1. Mục đích nghiên cứu.

 Môn Ngữ Văn là môn học quan trọng ở trường THCS. Điều này thể hiện ở sự phân bố số tiết trên tuần của môn Ngữ Văn lớn hơn so với các môn học khác. Ngoài nhiệm vụ cung cấp kiến thức xã hội, giáo dục nhận thức và thẩm mỹ, môn Ngữ Văn còn có vai trò định hướng, hướng học sinh tới cái đẹp, cái lương thiện trong sự hình thành nhân cách, đồng thời cung cấp cho các em những vốn sống nhất định làm hành trang trong cuộc sống tự lập sau này. Do đặc thù của môn học, môn Ngữ Văn được đánh giá là có nhiều thuận lợi trong việc hình thành tư duy tích cực và các kĩ năng sống cơ bản cho học sinh THCS. 

  1. Đối tượng nghiên cứu.

Nội dung chương trình Ngữ Văn 9 có vai trò hoàn thiện những đơn vị kiến thức của chương trình Ngữ Văn THCS theo cấu trúc đồng tâm. Đặc biệt những văn bản được chọn học đều là những văn bản thiết thực, có giá trị nội dung và nghệ thuật sâu sắc. Trong số những văn bản của Ngữ văn 9, không thể không kể đến văn bản “Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ. Theo phân phối chương trình, văn bản này được dạy ở tiết 16, 17 của chương trình Ngữ Văn 9 học kì I. Đây là một tác phẩm đặc sắc của văn học trung đại viết về đề tài người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Văn bản đã vượt ra ngoài một bi kịch trong phạm vi gia đình của người phụ nữ trong xã hội xưa để vươn đến một câu chuyện mang tính triết lý về những điều được, mất không nằm trong sự dự đoán hay tiên lượng của bất kì ai. [2] Khi dạy văn bản này tôi thực sự mong muốn học sinh cảm nhận được sự đổ vỡ của một gia đình nhỏ, nguyên nhân đổ vỡ đến từ đâu để sau này khi bước vào xây dựng cuộc sống mỗi trò biết vun vén và giữ gìn cuộc sống riêng của minh cho thật trọn vẹn. Cũng từ đó tôi muốn hướng học sinh đến một cách nhìn tích cực mới, bao dung, vị tha và yêu thương nhiều hơn là truy tìm nguyên nhân thủ phạm để oán hờn, trách móc. Chính vì chiều sâu của nội dung tác phẩm và những bài học sâu sắc có thể dành riêng cho mỗi người, mỗi một gia đình trong cách hành xử với chính hạnh phúc của mình mà tôi nhận thấy, đây thực  sự  là một tác phẩm có nội dung thuận lợi cho việc tích hợp kĩ năng sống và 

giúp các em có một cách tư duy tích cực trong một xã hội đa chiều.  

      Với những lí do trên, tôi xin được mạnh dạn chia sẻ những kinh nghiệm của mình sau nhiều năm giảng dạy văn bản “Chuyện người con gái Nam Xương” qua đề tài: Kinh nghiệm hình thành tư duy tích cực và kĩ năng sống cho học sinh lớp 9 qua văn bản “Chuyện người con gái Nam Xương”.

  1. Phương pháp nghiên cứu.

Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lí thuyết. Phương pháp điều tra khảo sát, thu thập thông tin. Phương pháp thống kê xử lí dữ liệu.

  1. NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM.
  2. CƠ SỞ LÍ LUẬN:
  3. Tư duy là phạm trù triết học dùng để chỉ những hoạt động của tinh thần, đem những cảm giác của người ta sửa đổi và cải tạo thế giới thông qua hoạt động vật chất, làm cho người ta có nhận thức đúng đắn về sự vật và ứng xử tích cực với nó. [3] Tư duy tích cực là gì?

        “Tư duy” thường có nghĩa là suy nghĩ và nói đến suy nghĩ là ta thường có ấn tượng rằng đó là một hoạt động của não bộ trong một thời điểm nào đó. Thực ra, từ “tư duy” còn có nghĩa rộng hơn, nó chỉ một thái độ sống, một cái nhìn về cuộc đời và sự sống, tương tự như tư duy trong cụm từ “thay đổi tư duy thay đổi cuộc đời”, “ làm chủ tư duy thay đổi vận mệnh”. Tư duy tích cực chính là “sống tích cực” hay “thái độ tích cực” đối với những sự vật, sự việc, những con người chúng ta gặp trong đời sống. Đó là:

        (1) Khi nhìn mọi sự, mọi vật, mọi vấn đề đều luôn thấy cái hay, cái đẹp.       (2) Nếu thấy cái xấu có khả năng biến cái xấu thành cái tốt

        (3) Luôn luôn hướng đến hành động để làm mọi sự tốt hơn.

  1. Tổ chức Y tế Thế giới WHOđịnh nghĩa kỹ năng sống là “khả năng thích nghi và hành vi tích cực cho phép cá nhân có khả năng đối phó hiệu quả với nhu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày” . Trong giáo dục tiểu học và giáo dục trung học, kỹ năng sống có thể là một tập hợp những khả năng được rèn luyện và đáp ứng các nhu cầu cụ thể của cuộc sống hiện đại hóa; ví dụ cuộc sống bao gồm quản lý tài chính (cá nhân), chuẩn bị thức ăn, vệ sinh, cách diễn đạt, và kỹ năng tổ chức. Đôi khi kỹ năng sống, nhưng không phải luôn luôn, khác biệt với các kỹ năng nghiệp vụ (trong nghề nghiệp) [4].

       Cũng theo WHO, kỹ năng sống được chia thành 2 loại là kỹ năng tâm lý xã hội và kỹ năng cá nhân, lĩnh hội và tư duy, với 10 yếu tố như: tự nhận thức, tư duy sáng tạo, giải quyết vấn đề, kỹ năng giao tiếp ứng xử với người khác, ứng phó với các tình huống căng thẳng và cảm xúc, biết cảm thông, tư duy bình luận và phê phán, cách quyết định, giao tiếp hiệu quả và cách thương thuyết [4]

       Mối quan hệ giữa tư duy tích cực và kĩ năng sống là một mối quan hệ chặt chẽ, tương hỗ cho nhau. Tư duy tích cực chi phối và rèn luyện kĩ năng, kĩ năng sống chính là công cụ để thực hiện một tư duy tích cực, biến tư duy trở thành những điều thực tế tốt đẹp chứ không  còn là hoạt động riêng lẻ  của não bộ. [5]

       Học sinh THCS cần được trải nghiệm nhiều hơn những hoạt động tư duy tích cực, sáng tạo, những kĩ năng sống cần thiết để tự bảo vệ mình và vươn lên khẳng định bản thân trong một xã hội vận động không ngừng vốn đã có nhiều cám dỗ lẫn những bất trắc. Không chỉ thế, hình thành thói quen tư duy tích cực, rèn luyện kĩ năng sống chính là tạo thêm cho các em những cơ hội thành công, chỉ cho các em lối sống của những con người biết xóa bỏ phiền não và biết tự đem đến niềm vui cho chính mình.

  1. THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ:
  2. Thực trạng:

       Trong nhiều năm tôi được phân công dạy Ngữ Văn 9, tôi đã dùng phiếu đánh giá bằng hình thức trắc nghiệm để tìm hiểu hướng tư duy và kĩ năng sống của  học sinh. Kết quả thu được có chênh lệch giữa các khóa học nhưng không đáng kể. Số liệu tôi sử dụng trong đề tài này là của năm học ………….qua hai lớp 9 của trường THCS Ngọc Liên huyện Ngọc Lặc.

       Mục đích của phiếu đánh giá là kiểm tra hướng tư duy và những kĩ năng xử lí  tình huống cơ bản  học sinh thường gặp trong đời sống. Từ đó có kế hoạch bồi dưỡng năng lực tư duy, đặc biệt là tư duy tích cực và trang bị những kĩ năng sống cơ bản cho các em.

      Phiếu đánh giá của tôi gồm năm câu hỏi lựa chọn, có hai lựa chọn được đưa ra. Lựa chọn a là cách suy nghĩ và giải quyết tình huống mang tính tích cực, mỗi lựa chọn a được 2 điểm. Lựa chọn b là cách nghĩ và giải quyết tình huống có thể kéo làm những nảy sinh mâu thuẫn bất lợi mới. Lựa chọn b được 1 điểm. Hệ thống câu hỏi như sau:

      Câu 1: Khi thầy cô giáo mời bố mẹ em đến trường để trao đổi về tình hình học tập của em, em thường cho rằng thầy cô sẽ phản hồi lại với bố mẹ em về:

  1. Sự cố gắng của em trong học tập thời gian qua.
  2. Những việc làm chưa đúng, chưa tốt của em trong thời gian qua.

       Câu 2: Khi em bị bố mẹ khiển trách vì lí do nào đó, em sẽ nghĩ:

  1. Bố mẹ khiển trách bởi em đã làm sai và bố mẹ muốn em tiến bộ.
0/5 (0 Reviews)
0/5 (0 Reviews)

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

SKKN Thiết kế một số hoạt động học tập theo định hướng phát triển năng lực tự học cho học sinh trong dạy học môn KHTN 6 (KNTT) (W+PPT)
6
KHTN
4.5/5

200.000 

Theo dõi
Thông báo của
guest
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
Set your categories menu in Theme Settings -> Header -> Menu -> Mobile menu (categories)
Shopping cart

KẾT NỐI NGAY VỚI KIẾN EDU

Chúng tôi luôn sẵn sàng lắng nghe và đưa ra giải pháp phù hợp nhất cho vấn đề của bạn.

0886945229

Email

kienedu.com@gmail.com

Đây chỉ là bản XEM THỬ - khách hàng vui lòng chọn mua tài liệu và thanh toán để nhận bản đầy đủ

TẢI TÀI LIỆU

Bước 1: Chuyển phí tải tài liệu vào số tài khoản sau với nội dung: Mã tài liệu

Chủ TK: Ngô Thị Mai Lan

STK Agribank: 2904281013397 Copy
* (Nếu khách hàng sử dụng ngân hàng Agribank thì chuyển tiền vào STK Agribank để tránh bị lỗi treo giao dịch)
STK TPbank: 23665416789 Copy
tài khoản tpbank kienedu

Bước 2: Gửi ảnh chụp giao dịch vào Zalo kèm mã tài liệu để nhận tài liệu qua Zalo hoặc email

Nhắn tin tới Zalo Kiến Edu (nhấn vào đây để xác nhận và nhận tài liệu!)