SKKN Một số biện pháp rèn kỹ năng sử dụng dấu câu cho học sinh lớp 4

4.5/5

Giá:

50.000 đ
Cấp học: Tiểu học
Môn: Tiếng việt
Lớp: 4
Bộ sách:
Lượt xem: 905
File:
TÀI LIỆU WORD
Số trang:
30
Lượt tải:

3

Sáng kiến kinh nghiệm “SKKN Một số biện pháp rèn kỹ năng sử dụng dấu câu cho học sinh lớp 4” triển khai gồm các biện pháp nổi bật sau:

2.3.1. Hệ thống cho học sinh về kiến thức và các loại dấu câu dược sử dụng ở lớp 4.
2.3.2. Giúp học sinh củng cố các dạng bài tập thường gặp về dấu câu.
2.3.3. Thực hành sử dụng một loại dấu câu theo yêu cầu cho trước để viết một đoạn văn.
2.3.4. Rèn luyện và nâng cao kỹ năng sử dụng dấu câu, vận dụng linh hoạt các chức năng của dấu câu trong phân môn Tập làm văn.

Mô tả sản phẩm

  1. Mở đầu
  2. 1. Lí do chọn đề tài.

Tiếng việt là môn học có vị trí quan trọng ở cấp Tiểu học. Để hình thành và phát triển ở học sinh lớp 4 các kỹ năng sử dụng Tiếng việt trong học tập và giao tiếp, phân môn Luyện từ và câu đã cung cấp kiến thức về các loại dấu câu, cách sử dụng các loại dấu câu trong nói và viết. [2]

Dấu câu có vai trò quan trọng trong hoạt động giao tiếp bằng chữ viết. Sự vắng mặt của các dấu câu trong một văn bản không những gây khó khăn cho việc hiểu nội dung văn bản mà còn có thể dẫn đến sự hiểu nhầm hoặc hiểu văn bản theo nhiều nghĩa khác nhau. Dấu câu cần được sử dụng linh hoạt, có dấu câu chỉ đảm nhiệm một chức năng, có dấu câu đảm nhiệm nhiều chức năng khác nhau. Dấu câu còn được sử dụng một cách sáng tạo theo cá nhân người viết.[1] Vì vậy, việc tiếp nhận và sử dụng các dấu câu không hề đơn giản. Đặc biệt trong các bài tập làm văn, dấu câu đóng góp một phần không nhỏ đến nội dung, ý nghĩa của bài viết. Dùng dấu câu đúng, phù hợp với nội dung bài viết vừa giúp các em thể hiện rõ ý, bộc lộ cảm xúc, giúp bài văn giàu hình ảnh. 

Qua nhiều lần chấm bài kiểm tra định kì, tôi nhận thấy ngay cả trong các bài tập Luyện từ và câu có yêu cầu đặt câu theo nội dung nào đó, học sinh chỉ quan tâm đến nội dung của câu mà không đặt dấu ở cuối câu nên làm ảnh hưởng đến chất lượng môn Tiếng Việt.Bên cạnh đó,vị trí,cự li, khoảng cách đặt dấu câu trong câu, trong từng từ khi trình bày bài viết chưa được đưa vào nội dung chương trình môn học nên chưa được giáo viên giáo viên và học sinh học sinh quan tâm đúng mức. Trong các tiết học, giáo viên mới chỉ quan tâm nhiều đến lỗi chính tả, nét chữ mà chưa hướng dẫn học sinh đến khoảng cách của dấu so với các con chữ. Ngay cả trong quá trình luyện viết chữ đẹp, nội dung này cũng chưa được giáo viên và học sinh quan tâm đúng mức (việc đặt dấu câu ở vị trí nào so với khoảng cách của các chữ trong cách viết của học sinh còn tùy tiện theo kiểu “tiện đâu, đặt đó”). Chính vì thế, việc nắm được cách đặt dấu câu đúng khoảng cách giữa các con chữ, cụ thể là biết cách đặt dấu câu ở vị trí nào, cần được quan tâm để việc đặt dấu câu trở thành kỹ năng trong cách viết đúng và đẹp.

Chính vì tầm quan trọng của việc sử dụng dấu câu trong việc thể hiện nội dung cũng như tìm hiểu trong thực tế những lỗi về dấu câu mà học sinh thường mắc, tất cả những trăn trở suy nghĩ mong tìm ra cách dạy học về dấu câu thành công hơn. Do đó, tôi tập trung vào tìm hiểu nghiên cứu nội dung: Một số biện pháp rèn kỹ năng sử dụng dấu câu cho học sinh lớp 4 ở trường Tiểu học Nga Thủy”  nhằm cung cấp cho học sinh kiến thức, tác dụng của từng loại dấu câu, luyện kỹ năng sử dụng việc trình bày dấu câu trong trình bày văn bản viết giúp các em sử dụng dấu câu đúng mục đích, linh hoạt và sáng tạo để các em có được những bài văn hay, những văn bản viết đúng yêu cầu, góp phần nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt của bậc Tiểu học. 

1.2. Mục đích nghiên cứu.

– Góp phần nâng cao chất lượng dạy và học Tiếng Việt.

– Giúp cho giáo viên nắm được phương pháp và chọn cho mình giải pháp tối ưu nhất khi dạy sử dụng dấu câu trong câu.

– Giúp học sinh nắm được cách viết câu theo nội dung được quy định trong các chủ điểm và luyện sử dụng viết câu đúng.

1.3. Đối tượng nghiên cứu.

– Học sinh lớp 4C trường Tiểu học Nga Thủy.

1.4. Phương pháp nghiên cứu.

– Phương pháp tra cứu:

– Phương pháp quan sát:

– Phương pháp điều tra:

–  Phương pháp thực nghiệm:

  1. Nội dung của sáng kiến kinh nghiệm

2.1.Cơ sở lí luận.

2.1.1. Ngôn ngữ học nói chung:

 Tiếng Việt nói riêng có liên quan mật thiết tới phương pháp dạy học Tiếng Việt, ngôn ngữ Tiếng Việt tạo nên nền tảng của môn học Tiếng Việt và logic khoa học của ngôn ngữ quyết định logic môn học Tiếng Việt. Phương pháp dạy học Tiếng Việt phải phát hiện những quy luật riêng, đặc thù của dạy học Tiếng Việt. [3]

Các bộ phận của ngôn ngữ học có vai trò quan trọng trong việc xác định nội dung và phương pháp dạy học. Những hiểu biết về từ vựng học cần thiết đối với việc tổ chức dạy từ trong nhà trường là cơ sở để xây dựng những bài học phong phú với các từ theo cách viết câu chủ điểm…gần đây trong phương pháp dạy tiếng người ta đưa ra nhiều hơn vào phong cách học.

Bên cạnh ngôn ngữ học còn có thể kể đến cơ sở văn học nghệ thuật ngôn ngữ chính là văn học. Ngôn ngữ có thể đưa con người thâm nhập vào bề sâu của thế giới bằng cách sử dụng những màu sắc hư ảo mà không hoạ sỹ nào thể hiện được. Ngôn từ có khả năng chuyển dịch hình tượng của các loại hình nghệ thuật khác sang loại hình văn học bằng ngôn từ. Thế giới và con người trong văn học hiện lên thật sinh động và rõ nét. Văn học giữ vai trò nâng cao, sàng lọc ngôn ngữ của nhân dân gọt lấy tinh hoa, tài nghệ đẹp đẽ và phát triển thêm. Nhờ vậy mà tạo điều kiện cho sự hình thành ngôn ngữ chuẩn mực, trong sáng.[3]

2.1.2. Việc tiếp nhận tiếng mẹ đẻ ở lứa tuổi khác nhau đều chi phối bởi sự phát triển tâm lý lứa tuổi.

Dạy Tiếng Việt hay dạy Luyện từ và câu đều phải chú ý đến các đặc điểm tâm lý của học sinh. Vì tư duy của học sinh Tiểu học còn mang tính tư duy cụ thể, trí nhớ trực quan hình tượng phát triển hơn trí nhớ logic. Khi dạy giáo viên cần phối hợp các phương pháp dạy học phù hợp và linh hoạt, giúp học sinh dễ dàng vận dụng kinh nghiệm sống của mình mà học tập. Thông qua giao tiếp và vận dụng Tiếng Việt của học sinh, vận dụng quan điểm tích hợp trong dạy học (vừa cung cấp kiến thức vừa hình thành kỹ năng).

Nhiều học sinh Tiểu học còn chưa biết tổ chức ghi nhớ có ý nghĩa là khuynh hướng phát triển trí nhớ máy móc. Vì vậy không thể yêu cầu các em hiểu nội dung theo định nghĩa trừu tượng, như vậy học sinh dễ dàng quên. Mà phần dạy “Luyện từ và câu” lại là mới mẻ so với chương trình cũ (từ ngữ – ngữ pháp). Ở chương trình cũ phần kiến thức được bố trí dạy trước sau đó học sinh vận dụng kiến thức đó vào làm bài tập. Nhưng chương trình mới “Luyện từ và câu” học sinh phải tự tìm hiểu bài, tự khám phá kiến thức, vận dụng những kiến thức đó vào giao tiếp. Có như vậy học sinh mới nhớ lâu, hiểu kỹ các khái niệm theo ý hiểu của mình. Bởi vậy người giáo viên phải có những giải pháp phù hợp với tâm lý học sinh và chương trình sách giáo khoa mới.

Trong chương trình tiểu học hiện hành, nội dung về dấu câu được học từ lớp 2. Có 10 dấu câu thường dùng và được học ở tiểu học là: dấu chấm, dấu chấm hỏi, dấu chấm than, dấu phẩy, dấu hai chấm, dấu gạch ngang, dấu ngoắc đơn, dấu ngoặc kép, dấu chấm phẩy và dấu chấm lửng. Thông qua các bài tập, học sinh luyện tập cách sử dụng ngay, không thông qua lí thuyết. Sự thay đổi về quan điểm biên soạn sách cũng phần nào làm ảnh hưởng đến chất lượng dạy và học vốn đã ăn sâu vào trong bản thân mỗi giáo viên, nhất là giáo viên dạy học lâu năm.

Dấu câu là kí hiệu chữ viết để biểu thị ngữ điệu khác nhau. Những ngữ điệu này lại biểu thị những quan hệ ngữ pháp khác nhau và những mục đích nói khác nhau. Nếu sử dụng dấu câu sai dẫn đến việc người đọc, người nghe hiểu sai nội dung diễn đạt. Vì thế, dạy cho học sinh sử dụng đúng các loại dấu là yêu cầu quan trọng của giáo viên tiểu học. [2] 

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

Theo dõi
Thông báo của
guest
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
Set your categories menu in Theme Settings -> Header -> Menu -> Mobile menu (categories)
Shopping cart

KẾT NỐI NGAY VỚI KIẾN EDU

Chúng tôi luôn sẵn sàng lắng nghe và đưa ra giải pháp phù hợp nhất cho vấn đề của bạn.

0886945229

Email

kienedu.com@gmail.com

Đây chỉ là bản XEM THỬ - khách hàng vui lòng chọn mua tài liệu và thanh toán để nhận bản đầy đủ

TẢI TÀI LIỆU

Bước 1: Chuyển phí tải tài liệu vào số tài khoản sau với nội dung: Mã tài liệu

Chủ TK: Ngô Thị Mai Lan

STK Agribank: 2904281013397 Copy
* (Nếu khách hàng sử dụng ngân hàng Agribank thì chuyển tiền vào STK Agribank để tránh bị lỗi treo giao dịch)
STK TPbank: 23665416789 Copy
tài khoản tpbank kienedu

Bước 2: Gửi ảnh chụp giao dịch vào Zalo kèm mã tài liệu để nhận tài liệu qua Zalo hoặc email

Nhắn tin tới Zalo Kiến Edu (nhấn vào đây để xác nhận và nhận tài liệu!)