SKKN Một số giải pháp của giáo viên chủ nhiệm nhằm phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác cho học sinh ở trường trung học phổ thông

Giá:
100.000 đ
Cấp học: THPT
Môn: Chủ nhiệm
Lớp:
Bộ sách:
Lượt xem: 638
File:
TÀI LIỆU WORD
Số trang:
55
Lượt tải:
12

Sáng kiến kinh nghiệm SKKN Một số giải pháp của giáo viên chủ nhiệm nhằm phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác cho học sinh ở trường trung học phổ thông triển khai gồm các biện pháp nổi bật sau:

– Thay đổi phương pháp quản lí lớp học
– Đổi mới nội dung và hình thức sinh hoạt lớp
– Đổi mới phương pháp dạy học
– Thông qua các hoạt động ngoại khóa
– Xây dựng mối quan hệ thân thiện giữa giáo viên và học sinh; giữa học sinh với học sinh
– Phối hợp với các lực lượng giáo dục

Mô tả sản phẩm

PHẦN I: MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 của Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã đề ra nhiệm vụ, giải pháp: “Đổi mới chương trình nhằm phát triển năng lực và phẩm chất người học, hài hòa đức, trí, thể, mĩ; dạy người, dạy chữ và dạy nghề…”. Chương trình giáo dục phổ thông mới (Ban hành kèm theoThông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26/12/2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) với mục tiêu hình thành và phát triển cho học sinh những phẩm chất và năng lực chủ yếu, cốt lõi trong đó có năng lực giao tiếp và hợp tác.
Trong chương trình giáo dục phổ thông mới đưa ra yêu cầu cần đạt về 5 phẩm chất và 10 năng lực của học sinh phổ thông. Theo đó, chương trình giáo dục phổ thông hình thành và phát triển cho học sinh 5 phẩm chất chủ yếu là yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm. Chương trình cũng hình thành và phát triển cho học sinh những năng lực cốt lõi gồm: Những năng lực chung được tất cả các môn học và hoạt động giáo dục góp phần hình thành, phát triển: năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo.Những năng lực chuyên môn, được hình thành, phát triển chủ yếu thông qua một số môn học và hoạt động giáo dục nhất định: năng lực ngôn ngữ, tính toán, tìm hiểu tự nhiên và xã hội, công nghệ, tin học, thẩm mỹ, thể chất.
Năng lực giao tiếp và hợp tác được xem là một trong những năng lực quan trọng của con người trong xã hội hiện đại. Không chỉ là cầu nối gắn kết mối quan hệ giữa mọi người mà năng lực giao tiếp và hợp tác còn là chìa khóa dẫn lối thành công trong mọi lĩnh vực.Tương tác với người khác sẽ tạo cơ hội trao đổi và phản ánh về ý tưởng. Hành động xây dựng ý tưởng để chia sẻ thông tin hoặc lập luận để thuyết phục người khác là một phần quan trọng trong học tập và làm việc.Giao tiếp và hợp tác tốt sẽ giúp chúng ta chia sẻ trách nhiệm, hỗ trợ lần nhau để phát huy tốt tiềm năng của từng người. Sự liên kết, phối hợp ăn ý nhau sẽ tạo ra được nhiều giá trị hơn so với việc tận dụng sức mạnh của từng người riêng lẻ. Rõ ràng, giáo dục năng lực giao tiếp và hợp tác cho học sinh là cấp thiết và cần được chú trọng trong giáo dục phổ thông nhưng việc triển khai chưa thật sự hiệu quả. Thực tế trong các trường trung học phổ thông (THPT) nói chung và ở Nghệ An nói riêng thì chỉ có thể triển khai lồng ghép giáo dục năng lực giao tiếp và hợp tác nhỏ lẻ kết hợp với giáo dục các kỹ năng khác cho học sinh trong một số môn học và chuyên đề ngoại khóa, hoạt động tập thể chung của nhà trường. Định hướng giá trị chưa rõ, các cách thức chưa được thiết kế để hướng vào phát triển năng lực này một cách hiệu quả nên mục đích của phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác ở những cơ sở này chưa đạt được kết quả như mong đợi.
Trường trung học phổ thông Đô Lương 4 nằm ở vùng hạ huyện Đô Lương, học sinh cơ bản xuất thân từ vùng nông thôn lại ít được giao tiếp bên ngoài nên năng lực giao tiếp và hợp tác có phần hạn chế. Chưa kể những năm đầu đổi mới dạy-học theo hướng phát triển năng lực học sinh phần nào giáo viên cũng còn nhiều lúng túng, thiếu kinh nghiệm.Trong khi đó việc phát triển và nâng cao năng lực giao tiếp và hợp tác cho học sinh là điều hết sức cần thiết.
Trước thực tế đó, bản thân tôi thiết nghĩ giáo viên chủ nhiệm lớp có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác góp phần vào mục tiêu phát huy phẩm chất và năng lực, góp phần định hướng nghề nghiệp cho học sinh. Từ đó hướng đến mục đích đào tạo con người mới Việt Nam phát triển cân đối, hài hòa và toàn diện. Từ những vấn đề nêu trên, với kinh nghiệm thực tế trong công tác giáo viên chủ nhiệm, tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài:“Một số giải pháp của giáo viên chủ nhiệm nhằm phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác cho học sinh ở trường trung học phổ thông Đô Lương 4” góp phần vào việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện ở trường Trung học phổ thông Đô Lương 4 nói riêng và giáo dục phổ thông nói chung.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
– Khảo sát và đánh giá thực trạng năng lực giao tiếp và hợp tác của học sinh THPT Đô Lương 4, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.
– Làm rõ những nguyên nhân tồn tại, những yếu tố khách quan và chủ quan ảnh hưởng đến năng lực giao tiếp và hợp tác của học sinh.
– Đề xuất một số các định hướng, biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả năng lực giao tiếp và hợp tác của học sinh THPT Đô Lương 4, huyện Đô lương tỉnh Nghệ An.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
– Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về năng lực giao tiếp và hợp tác.
– Tiến hành khảo sát đánh giá thực trạng năng lực giao tiếp và lực hợp tác của học sinh THPT Đô Lương 4, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.
– Đề xuất một số các định hướng, giải pháp nhằm phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác của học sinh THPT Đô Lương 4, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.
3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu năng lực giao tiếp và hợp tác của học sinh THPT Đô Lương 4, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
– Về phạm vi nội dung: nghiên cứu thực trạng năng lực hợp tác từ đó đề xuất một số các định hướng, biện pháp nhằm phát triển và nâng cao hiệu quả năng lực hợp tác cho học sinh lớpchủ nhiệm.
– Về phạm vi thời gian: Đề tài nghiên cứu năng lực giao tiếp và hợp tác của học sinh THPT Đô Lương 4 trong năm học 2020-2021; năm học 2021-2022.
4. Phương pháp nghiên cứu
– Phương pháp phân tích, tổng hợp:
+ Phương pháp phân tích: Dựa trên nguồn tài liệu từ các công trình nghiên cứu, các bài báo khoa học, các tác phẩm khoa học, đề tài nghiên cứu về năng lực giao tiếp và hợp tác tôi tiến hành phân tích thực trạng năng lực hợp tác của học sinh THPT Đô Lương 4, Huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An qua việc thu thập, tổng hợp điều tra, bảng biểu và xử lý số liệu.Từ đó, tôi đưa ra một số nhận xét, đánh giá về năng lực giao tiếp và hợp tác của học sinh THPT Đô Lương 4 Huyện Đô Lương tỉnh Nghệ An.
+ Phương pháp tổng hợp: Tổng hợp tài liệu từ các công trình nghiên cứu, các bài báo khoa học, các tác phẩm khoa học, đề tài nghiên cứu đã có và tổng hợp điều tra, bảng hỏi và số liệu thống kê để đưa ra một số định hướng để giải quyết những tồn tại trong hoạt động của học sinh.
– Phương pháp thống kê và xử lý số liệu bằng thống kê toán học: Nghiên cứu, thu thập, thống kê các thói quen, các hoạt động, kết quả ý kiến, kiến nghị của học sinh về vấn đề rèn luyện năng lực hợp tác cho học sinh THPT Đô Lương 4, Huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An. Tiến hành xử lý, định lượng số liệu, biểu đồ hóa.
– Phương pháp quan sát và tổng kết thực tiễn: Trên cơ sở, theo dõi nghiên cứu biểu hiện cụ thể của học sinh hàng ngày… đề tài đưa ra những nhận xét, đánh giá và kết luận khoa học.

PHẦN II: NỘI DUNG
1. CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1. Năng lực giao tiếp và hợp tác ở học sinh THPT
1.1.1. Khái niệm năng lực
Khái niệm về năng lực dù được nhiều học giả đề cập đến nhưng cho đến nay việc thống nhất một định nghĩa về năng lực vẫn là một điều khó khăn nhất là trong lĩnh vực ngôn ngữ và giao tiếp. Ngay từ những năm 1965, Noam Chomsky đã phân biệt “năng lực” và “hành vi” ngôn ngữ theo đó “năng lực là một sự tiềm tàng được hiện thực hóa thông qua lời nói hoặc chữ viết để tạo nên hành vi”. Điều này được thể hiện rõ trong từ điển Robert: “năng lực là một hệ thống được tạo nên bởi các nguyên tắc và các yếu tố vận dụng các nguyên tắc này, được kết hợp bởi người dùng một ngôn ngữ tự nhiên cho phép tạo ra một số lượng không giới hạn các câu đúng ngữ pháp của ngôn ngữ này và cho phép hiểu những câu chưa từng nghe thấy”. Như vậy, dưới cái nhìn ngôn ngữ học, Chomsky cho rằng năng lực là một thứ sẵn có của chủ thể với tri thức mang tính hình thức của các cấu trúc ngữ pháp tồn tại độc lập ngoài ngữ cảnh hay các giá trị ngữ dụng liên quan, và như vậy chỉ nằm ở mức độ thành lập câu.
Đặt trên quan điểm chung về năng lực trong giảng dạy các môn học phổ thông, Christian DELORY cho rằng năng lực là “tập hợp đầy đủ các kiến thức, kỹ năng làm việc, kỹ năng sống giúp thích nghi, giải quyết vấn đề và thực hiện dự án trong một tình huống nào đó” (Christian DELORY, 2000). Khái niệm này cho chúng ta thấy đầy đủ hơn về các yếu tố cấu thành “năng lực”. Như vậy, năng lực trước tiên là một tập hợp của các yếu tố “kiến thức” và “kỹ năng” để thực hiện một việc gì đó (giải quyết vấn đề hay thực hiện dự án) nhưng phải đặt trong một “tình huống” cụ thể. Khái niệm này đưa ra có tính bao hàm đầy đủ các yếu tố cấu thành đối tượng của việc học, dạy trong trường học.
Tập trung cụ thể hơn về việc dạy và học ngoại ngữ, các tác giả của Khung quy chiếu chung các ngôn ngữ Châu Âu nêu rõ: “năng lực là tập hợp các kiến thức, kỹ năng và nền tảng sẵn có cho hành động”. Khái niệm này nêu lên được các yếu tố cấu thành của năng lực bao gồm các “kiến thức”, “kỹ năng” và cả những “nền tảng sẵn có” cho phép thực hiện một hành động nào đó. Như vậy, khái niệm này đề cập đến các yếu tố cần phải tích lũy và những yếu tố đã được tích lũy của chủ thể người học nhằm vận dụng trong một hành động cụ thể nào đó. Khái niệm này phù hợp với việc dạy và học ngoại ngữ khi coi người học là một chủ thể có yếu tố xã hội, có tính đến những vốn sẵn có về các mặt văn hóa, xã hội cũng như là kinh nghiệm cá nhân tích lũy được trong cuộc sống.
1.1.2. Năng lực giao tiếp
1.1.2.1. Khái niệm năng lực giao tiếp
Giao tiếp là một quá trình trong đó các bên tham gia tạo ra hoặc chia sẻ thông tin, cảm xúc với nhau nhằm đạt được mục đích giao tiếp. Theo cách quan niệm này, giao tiếp không đơn thuần là một hành vi đơn lẻ mà nó nằm trong một chuỗi các tư duy hay hành vi mang tính hệ thống trong bản thân các bên tham gia giao tiếp hoặc giữa họ với nhau. Thành phần các bên tham gia vào quá trình giao tiếp có thể rất đa dạng nếu xét giao tiếp theo nghĩa rộng. Tuy nhiên, giao tiếp mà chúng ta nói ở đây giới hạn vào con người với tư cách là các bên tham gia giao tiếp.
Bởi giao tiếp là một quá trình, giao tiếp liên quan đến việc chia sẻ thông tin hoặc cảm xúc giữa các bên tham gia. Điều này nhấn mạnh rằng giao tiếp không thể mang tính một chiều dù rằng xét bề mặt thì có rất nhiều tình huống cho thấy một bên tham gia giao tiếp hướng tới bên kia một cách “tuyệt vọng’’ mà không có hồi âm hay phản hồi.
Khái niệm về năng lực giao tiếp lần đầu được xuất hiện trong những năm 1970 khi nhà ngôn ngữ học Hymes phân biệt hai loại năng lực: “năng lực ngữ pháp” và “năng lực sử dụng”. Theo Hymes, “năng lực sử dụng” là khả năng vận dụng các “năng lực ngữ pháp” nhằm đảm bảo các phát ngôn phù hợp với các tình huống cụ thể. Từ đó, khái niệm “năng lực giao tiếp” được hình thành để chỉ việc sử dụng hiệu quả ngôn ngữ trong một tình huống xã hội cụ thể.
Đối với A.Abbou, năng lực giao tiếp được xem xét dưới góc độ xã hội nhiều hơn là ngôn ngữ. Theo Abbou, năng lực giao tiếp của một người nào đó là “tổng hợp năng lực vốn có và các khả năng thực hiện được hệ thống tiếp nhận và diễn giải các tín hiệu xã hội có được theo đúng như tập hợp các chỉ dẫn và quy trình đã được xây dựng và phát triển để tạo ra trong một tình huống xã hội các hành xử phù hợp với việc xem xét các dự định của mình”.
Dưới góc nhìn ngôn ngữ học của mình, Beautier – Casting lại cho rằng năng lực giao tiếp là “năng lực vốn có của người nói để hiểu một tình huống trao đổi ngôn ngữ và trả lời một cách thích hợp, bằng ngôn ngữ hay không bằng ngôn ngữ. Hiểu ở đây đồng nghĩa với việc đối chiếu một ngữ nghĩa không chỉ dưới hình thức quy chiếu, nghĩa học, nội dung của thông điệp, mà còn rất có thể là một hành vi, hoạt động tại lời và bởi lời có chủ đích” (Beautier-Casting, 1983). Có thể nói tác giả đề cao các vấn đề ngữ dụng khi đưa ra quan điểm của mình về năng lực giao tiếp.
1.1.2.2. Cấu trúc của năng lực giao tiếp
Việc phân định các thành phần khác nhau của năng lực giao tiếp cũng rất đa dạng ở các tác giả khác nhau. Theo Daniel Coste, năng lực giao tiếp bao gồm bốn thành phần:
– Thành phần làm chủ ngôn ngữ gồm các kiến thức ngôn ngữ, các kỹ năng liên quan đến sự vận hành của ngôn ngữ với tư cách là một hệ thống cho phép thực hiện các phát ngôn.
– Thành phần làm chủ văn bản gồm các kiến thức ngôn ngữ, kỹ năng liên quan đến diễn ngôn, các thông điệp với tư cách là một chuỗi tổ chức phát ngôn.
– Thành phần làm chủ các yếu tố về phong tục gồm các kiến thức, kỹ năng liên quan đến tập quán, chiến lược, cách điều chỉnh trong trao đổi liên nhân theo đúng địa vị, vai vế và ý định của những người tham gia giao tiếp.
– Thành phần làm chủ tình huống bao gồm các kiến thức và kỹ năng liên quan đến các yếu tố khác nhau có thể ảnh hưởng đến cộng đồng và sự lựa chọn của người sử dụng ngôn ngữ trong một hoàn cảnh cụ thể. Tuy nhiên, thiên về góc độ nội lực cá nhân cần vận dụng trong giao tiếp, A. Abbou đã đề xuất cấu trúc năm yếu tố của năng lực giao tiếp, bao gồm: năng lực ngôn ngữ, năng lực văn hóa – xã hội, năng lực logic, năng lực lập luận và ký hiệu học. Cụ thể như sau:
– Năng lực ngôn ngữ, Abbou cho rằng nó bao gồm các năng lực bẩm sinh và khả năng sử dụng ngôn ngữ mà chủ thể người nói có được để tiếp nhận và diễn đạt các phát ngôn của người khác và đưa ra các phát ngôn để người khác có thể tiếp nhận và diễn đạt lại được.
– Như vậy, năng lực này bao gồm các mặt thuần túy ngôn ngữ, diễn ngôn (chuyển từ câu sang lời nói) và các tình thái (tu từ). Năng lực này được thể hiện dưới nhiều cấp độ, tức là theo số lượng và sự phức tạp của các phát ngôn và các mẫu được tiếp nhận và phát ra.
– Năng lực văn hóa-xã hội bao gồm các năng lực bẩm sinh và khả năng sử dụng ngôn ngữ mà chủ thể người nói có được để kết nối các tình huống, sự kiện, hành vi, ứng xử với các mã hóa xã hội và hệ quy chiếu (hệ thống các quan niệm điều chỉnh việc tổ chức các tập quán về khoa học và xã hội). Giống như năng lực ngôn ngữ, năng lực này cũng được hình thành theo từng cấp độ.
– Năng lực logic chỉ các năng lực bẩm sinh và khả năng để tạo ra tập hợp các diễn ngôn có thể diễn đạt được, liên kết với các biểu trưng và phạm trù thực tế và phân biệt các cơ sở khái niệm, các phương thức nối kết và bước cụ thể để đảm bảo diễn ngôn được thống nhất, tiến triển và có hiệu lực.
– Năng lực lập luận bao gồm các năng lực bẩm sinh và khả năng cho phép tạo ra các thao tác diễn ngôn theo mối quan hệ giữa cá nhân với tổ chức, với tình huống, với nhu cầu, với dự định mang tính chiến lược và chiến thuật.
– Cuối cùng là năng lực tín hiệu học bao gồm các năng lực bẩm sinh và khả năng giúp cá nhân có được các phương tiện tiếp nhận các đặc tính võ đoán, đa hệ thống và nhất là dễ thay đổi của tín hiệu diễn tả mang tính xã hội và các diễn đạt bằng ngôn ngữ. Đặc biệt, năng lực này được cụ thể hóa bằng việc hiểu và thực hành các thao tác diễn đạt, giữ và tái hiện nghĩa hoặc là để phù hợp với thực tế hoặc là khi tưởng tượng có sử dụng ngôn ngữ để thể hiện được các dấu hiệu ảo ảnh hoặc ý muốn. Cũng cùng quan điểm cấu trúc năm yếu tố, nhưng H.Boyer lại tổ chức theo một hướng nhìn khác. Theo học giả này, năm yếu tố đó bao gồm:
+ Năng lực về tín hiệu hay tín hiệu ngôn ngữ;
+ Năng lực về quy chiếu;
+ Năng lực về diễn ngôn – văn bản;
+ Năng lực xã hội dụng học;
+ Năng lực về tính bản sắc xã hội văn hóa (H. Boyer, 1990).
Như vậy, theo quan điểm này, tất cả các yếu tố cấu thành năng lực giao tiếp thể hiện tương đối hoàn chỉnh các yếu tố ảnh hưởng đến việc nắm bắt ngôn ngữ của một người dùng ngôn ngữ nói chung chứ không phải trên quan điểm của người học một ngôn ngữ. Cuối cùng, chúng tôi thấy các tác giả của Khung quy chiếu chung các ngôn ngữ châu Âu đưa ra quan điểm hợp lý hơn với cấu trúc ba yếu tố của năng lực giao tiếp, bao gồm: năng lực ngôn ngữ, năng lực xã hội ngôn ngữ và năng lực dụng học.
1.1.2.3. Các phương tiện của năng lực giao tiếp
Phương tiện giao tiếp là tất cả yếu tố được dùng để thể hiện thái độ, tình cảm, tư tưởng, mối quan hệ và những tâm lý khác trong một cuộc giao tiếp. Phương tiện giao tiếp gồm hai nhóm: ngôn ngữ và phi ngôn ngữ.
– Những yếu tố có liện quan đến ngôn ngữ gồm:
+ Nội dung: Nghĩa của từ, lời nói.
+ Tính chất: Ngữ điệu, nhịp điệu, âm điệu
– Những biểu hiện của nhóm phi ngôn ngữ gồm:
+ Diện mạo: Dáng người, màu da, khuôn mặt,…
+ Nét mặt: Khoảng 2000 nét mặt
+ Nụ cười: Thể hiện cá tính của người giao tiếp
+ Ánh mắt: Thể hiện cá tính của người giao tiếp, đồng thời thể hiện vị thế của người giao tiếp
+ Cử chỉ
+ Tư thế: Bộc lộ cương vị xã hội
+ Không gian giao tiếp
+ Hành vi
1.1.2.4. Đối tượng giao tiếp
Đối tượng giao tiếp là đối tượng mà chúng ta thực hiện việc giao tiếp. Đối tượng giao tiếp rất đa dạng, có thể là trẻ em hay người lớn, là nông dân hay trí thức, là người nghèo hay người giàu, là người nóng tính hay bình thản … nhưng ở đây chỉ tập trung về nhóm theo độ tuổi và đặc điểm tâm lí .
Nhóm đối tượng giao tiếp chia theo độ tuổi và đặc điểm tâm lý cơ bản Bao gồm 5 nhóm đáng quan tâm sau:
– Nhi đồng: Từ 5 – 6 tuổi cho đến 10 – 11 tuổi. Lứa tuổi này nói theo và bắt chước người lớn một cách máy móc, trẻ còn ham chơi, thích chơi chung với các bạn trong nhóm như hội hay đội thiếu niên… Trẻ xem thầy cô là những người lý tưởng, đối với bạn bè chưa có sự phân biệt giàu, nghèo, học giỏi hay học giở, các em rất hồn nhiên và thơ ngây vì thế các em dễ tha thứ cho nhau và mau quên các sai lầm của nhau. Các em có khả năng quan sát rất cao để học và hỏi. Song, do nhiều yếu tố xã hội ngày nay như: sự phát triển của Internet, sự thờ ơ, thiếu văn hóa, đạo đức của một bộ phận xã hội, gia đình bận rộn, ít quan tâm đến con cái làm chúng dể bị tự kỉ, xa lánh bạn bè, hoặc ngang bướng, nghịch ngợm.
– Thiếu niên: Từ 11 – 12 đến 14 – 15 tuổi. Ở lứa tuổi này, sự thay đổi tâm lý xảy ra rất lớn do ảnh hưởng bởi sự dậy thì. Đây là độ tuổi có tâm lý phức tạp, không còn là trẻ con nhưng cũng chẳng phải là người lớn. Vì thế mà tâm lý luôn mất cân đối, chứa đựng nhiều mâu thuẫn trong sự phát triển. Các em bắt đầu quan tâm nhiều hơn đến chuyện giới tính và bạn khác giới. Các em thường đánh giá chủ quan qua bề ngoài của một vấn đề mà không cần xem xét cụ thể tính đúng đắn, chân thật của nó. Về giao tiếp với người lớn, các em muốn được người lớn coi trọng và xem mình cũng là người lớn không thích bị áp đặt bị coi là con nít. Các em luôn có xu hướng muốn khẳng định mình với bạn bè, với người lớn một cách máy móc, thiếu suy nghĩ đôi khi rất trẻ con.
– Thanh niên: Từ 15 – 20 tuổi. Tâm sinh lý bắt đầu ổn định, các em được công nhận như một người lớn. Sự tự ý thức tăng dần, đặc biệt là tính tự trọng phát triển đến mức độ cao. Tình cảm các em rất phong phú, tình yêu phát triển nhưng chưa chín chắn và hoàn thiện dần đến tuổi đầu sinh viên. Khả năng suy xét và đánh giá, phát triển hơn. Các em biết tạo uy tín và phong cách riêng cho mình. Phạm vi giao tiếp rộng hơn nên tri thức xã hội cũng nhiều hơn. Các em vẫn còn hiếu thắng và bồng bột.
– Trưởng thành: từ 21 đến 40 tuổi. Phát triển ổn định về tâm sinh lý, bước đầu có những uy tín và địa vị nhất định. Thường xem xét một vấn đề trên nhiều khía cạnh, khả năng tổng hợp, đánh giá cao, luôn lắng nghe và làm theo người có uy tín. Cái tôi cá nhân rất cao. Chuyện hôn nhân, gia đình ảnh hưởng rất nhiều đến tâm lý giai đoạn này.
– Trung niên: Từ 40 đến 60 tuổi. Thể hiện sự chín chắn, già giặn của một người từng trải sự đời. Rất thích được tôn trọng
– Cao niên: Trên 60 tuổi. Hệ thần kinh bắt đầu giảm sút. Kinh nghiệm dồi dào nên thường tự cho mình là đúng, bảo thủ. Thích tìm về quá khứ hay kể chuyện xưa. Luôn muốn người khác tôn trọng, chiều chuộng. Rất sợ cô đơn, sợ người khác không quan tâm đến mình.
1.1.2.5. Các yếu tố cần phát triển để có năng lực giao tiếp tốt
Có nhiều loại hình kĩ năng giao tiếp bạn cần lĩnh hội và thực hành để trở thành một người giao tiếp thành thạo. Các kĩ năng này có thể được sử dụng kết hợp trong các hoàn cảnh giao tiếp khác nhau. Để giao tiếp tốt, ứng xử khéo léo trong cuộc sống cũng như công việc và xã hội chúng ta cần lưu ý những điểm sau:
+ Lắng nghe tích cực
Lắng nghe là kĩ năng cần thiết trong quá trình giao tiếp với người đối diện, đặc biệt đối với đồng nghiệp. Kỹ năng lắng nghe giúp tập trung lắng nghe những câu chuyện đời thường, chia sẻ những khó khăn trong công việc cũng như trong cuộc sống bằng cách phân tích, đóng góp ý tưởng và hỏi thêm thông tin,…sẽ giúp kéo gần khoảng cách và tăng sự thân mật giữa đồng nghiệp. Cũng nên lưu ý rằng để đạt hiệu quả giao tiếp tối ưu, bạn nên gạt bỏ sự tồn tại của điện thoại hay mạng xã hội – các nhân tố làm bạn phân tán, khiến cuộc trò chuyện trở nên nhàm chán và người nghe cảm thấy không được tôn trọng.
+ Điều chỉnh phong cách nói chuyện với từng người nghe
Tùy thuộc vào các đối tượng giao tiếp, bạn thiết lập phong cách và hình thức giao tiếp cho phù hợp. Ví dụ, khi giao tiếp với cấp trên, các hình thức giao tiếp trang trọng như gửi email hoặc gọi điện thoại sẽ được ưu tiên. Khi làm việc teamwork, video conference sẽ là kênh giao tiếp hiệu quả hơn một email dày đặc thông tin.
+ Sự thân thiện
Sự thân thiện góp phần làm nên hiệu quả giao tiếp (niềm tin và sự thấu hiểu) được đảm bảo trên 2 yếu tố: sự chân thành và lòng tốt. Trong công việc, bạn có thể bắt đầu cuộc trò chuyện với đồng nghiệp hay cấp trên bằng những câu hỏi đời thường về quê quán, nơi ở, thời tiết hay tình trạng sức khỏe với thái độ tích cực và luôn giữ nụ cười trên môi kèm theo những lời khen ngợi, chúc mừng trước thành quả của đồng nghiệp, giúp nuôi dưỡng niềm tin với cấp trên và với đồng nghiệp, thúc đẩy hiệu quả công việc.
+ Sự tự tin
Tự tin là yếu tố then chốt cho việc thể hiện một ý tưởng như phát biểu, đóng góp ý kiến tại cuộc họp. Sự tự tin được thể hiện qua tương tác bằng mắt, ngồi thẳng và mở rộng vai khi trao đổi thông tin với trưởng phòng kinh doanh hoặc đồng nghiệp. Bên cạnh đó, sự tự tin sẽ giúp bạn thành công trong việc thuyết phục các nhà tuyển dụng trong cuộc phỏng vấn vào vị trí mà bạn mong ước.
+ Trao đi và tiếp nhận phản hồi
Hiệu quả giao tiếp phần lớn được đánh giá bởi chất lượng của các phản hồi. Phản hồi càng sâu sắc và mang tính phản biện thì vấn đề đưa ra càng thu hút và có chiều sâu. Phản hồi nên tập trung giải quyết vấn đề, cung cấp các giải pháp để củng cố thêm tính bền vững và khả thi của các dự án.
+ Âm lượng và sự rõ ràng
Chất lượng giao tiếp cũng phụ thuộc vào âm lượng và sự rõ ràng. Khi bạn muốn truyền đạt một thông điệp, bạn cần điều chỉnh âm lượng của giọng nói hoặc của các phương tiện truyền tải thông tin sao cho âm thanh truyền tải đủ nghe và rõ ràng để đảm bảo người nghe không bỏ sót bất kì thông tin quan trọng nào. Âm thanh quá to khiến cho thông tin truyền đi kém hiệu quả và khiến người nghe không cảm thấy được tôn trọng.
+ Sự đồng cảm
Cảm xúc là sản phẩm của quá trình truyền tải thông điệp. Bày tỏ sự đồng cảm đúng lúc với đối tượng giao tiếp (người nghe) góp phần duy trì cuộc trò chuyện, giúp chủ thể giao tiếp đạt được mục đích giao tiếp
+ Sự tôn trọng
Song hành với sự đồng cảm, sự tôn trọng được thể hiện trong việc không làm gián đoạn bài phát biểu như tắt điện thoại và chế độ thông báo của các mạng xã hội. Về phía chủ thể giao tiếp, có thể sử dụng các phương tiện hỗ trợ để đảm bảo mọi thành viên đều có thể nghe được bài phát biểu. Bên cạnh đó, việc ăn mặc phù hợp sẽ tạo cảm hứng tập trung cho người nghe, từ đó tăng hiệu quả giao tiếp.
+ Hiểu thông điệp của ngôn ngữ kí hiệu
Bên cạnh lời nói thì các ngôn ngữ kí hiệu cũng phát huy tác dụng trong việc truyền đạt thông điệp. Một cái gật đầu hoặc hành động giơ ngón tay cái có thể là tín hiệu nhiệt liệt đồng tình với các quan điểm được đưa ra. Ngược lại, hãy đảm bảo bạn gửi thông điệp phù hợp đối với đối tượng giao tiếp (người nghe) nhé.
+ Sẵn sàng phản hồi
Phản hồi một cách nhanh chóng đối với thông điệp của chủ thể giao tiếp cũng chính là một hình thức cổ vũ các ý tưởng tích cực và tạo tương tác giữa người nói và người nghe, giúp cải thiện hiệu quả giao tiếp.
1.1.2.6. Các lỗi cần tránh trong phát triển năng lực giao tiếp
– Bình tĩnh lắng nghe, không nên ngắt lời người khác. Nếu ngắt lời hãy “xin phép” hoặc “xin lỗi” trước đó.
– Không chê bai, nói xấu người khác, tránh các chủ đề nhạy cảm dân tộc, tôn giáo.
– Không vòng vo, tránh ậm ừ, ngập ngừng.
– Không khoanh tay, xem đồng hồ, ngắm móng tay.
– Nheo mắt, nhìn chằm chằm, nụ cười không chân thật.
– Gãi đầu, gãi cổ, cử động nhiều không tập trung khi giao tiếp.
– Không khơi gợi những chuyện người khác không muốn nghe, động chạm lòng tự ái.
– Sử dụng chủ ngữ “tôi” hay”chúng ta” phù hợp từng hoàn cảnh.
– Nói sai đề tài, chủ đề mà mọi người đang đề cập đến.
– Nói thì thầm với một số người trong tập thể đông người.
– Nói quá to khi không cần thiết. Tùy chủ đề giao tiếp mà có âm điệu, ngữ điệu phùhợp.
– Không khua tay, múa chân, thể hiện thái độ lo lắng hay vui vẻ quá khi giao tiếp.
– Hỏi lại những điều chưa hiểu, luôn nhớ tên người đối diện.
– Tạo sự thân mật, cử chỉ đi cùng lời nói và ánh mắt.
– Không nóng nảy, không hấp tấp, không vội vàng.
1.1.3. Năng lực hợp tác
1.1.3.1. Hợp tác
Hợp tác là một yếu tố không thể thiếu trong quá trình lao động của con người. Nó diễn ra thường xuyên trong gia đình và trong xã hội. Theo Từ điển Tiếng Việt, hợp tác là cùng chung sức giúp đỡ lẫn nhau trong một công việc, một lĩnh vực nào đó, nhằm một mục đích chung. Sự hợp tác diễn ra ở các mặt:
– Thể hiện khả năng làm việc hiệu quả và tôn trọng với các nhóm đa dạng.
– Vận dụng tính linh hoạt và sẵn lòng giúp ích trong việc thực hiện các thỏa hiệp cần thiết để đạt được mục tiêu chung.
– Giả định trách nhiệm được chia sẻ đối với công việc hợp tác và các đóng góp cánhân có giá trị được thực hiện bởi mỗi thành viên trong nhóm. Hợp tác trong dạy học là sự kết hợp giữa tính tập thể và tính cá nhân thực hiện các biện pháp có cơ sở khoa học để tổ chức, điều khiển các mối quan hệ vận động và phát triển theo một trật tự nhất định nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ dạy học. Trong đó, giáo viên là người chỉ đạo hoạt động tự học của học sinh, giúp học sinh tự tìm ra tri thức qua quá trình cá nhân hóa và xã hội hóa. Học sinh là chủ thể tích cực của hoạt động học tập. Qua hợp tác, học sinh trao đổi ý tưởng giúp nhau trong việc lĩnh hội tri thức, hình thành kĩ năng, kĩ xảo và tự mình tìm kiếm tri thức bằng chính hành động của mình. Môi trường là nơi diễn ra quá trình hợp tác làm cho tri thức đã cá nhân hóa được xã hội hoá. Sự tác động giữa người dạy, người học và môi trường theo trật tự nhất định tạo nên sự thống nhất của quá trình dạy học, làm cho quá trình này vận động tạo ra tri thức, kĩ năng, thái độ và sự trưởng thành ở học sinh.
1.1.3.2. Các biểu hiện của năng lực hợp tác
– Biết lắng nghe nhiệm vụ chung của nhóm và nhiệm vụ của bản thân do nhóm trưởng phân công.
– Thực hiện tích cực có kết quả các nhiệm vụ do nhóm giao cho theo cá nhân, theo cặp hoặc nhóm nhỏ.
– Biết trình bày chia sẻ với các thành viên trong nhóm.
– Biết lắng nghe ý kiến của các thành viên khác.
– Biết thảo luận để đưa ra kết luận chung của nhóm.
– Biết tự đánh giá và đánh giá kết quả của các thành viên trong nhóm, giữa các nhóm với thái độ chia sẻ, xây dựng.
– Biết hợp tác, chia sẻ các nhiệm vụ và kinh nghiệm trong nhóm, trong lớp, tiếp thu ý kiến của người khác một cách học tập tích cực
1.2. Giáo viên chủ nhiệm ở trường THPT với công tác phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác cho học sinh
1.2.1. Vị trí và chức năng của giáo viên chủ nhiệm
Trong nhà trường, giáo viên chủ nhiệm là thành viên của tập thể sư phạm và hội đồng sư phạm, là người thay mặt hiệu trưởng, hội đồng nhà trường và cha mẹ học sinh quản lí và chịu trách nhiệm về chất lượng giáo dục toàn diện học sinh lớp mình phụ trách, tổ chức thực hiện chủ trương, kế hoạch của nhà trường ở lớp. Đối với học sinh và tập thể lớp, giáo viên chủ nhiệm là nhà giáo dục và là người lãnh đạo gần gũi nhất; người lãnh đạo, tổ chức, điều khiển, kiểm tra toàn diện mọi hoạt động và các mối quan hệ ứng xử thuộc phạm vi lớp mình phụ trách dựa trên đội ngũ tự quản là cán bộ lớp, cán bộ Đoàn và tính tự giác của mọi học sinh trong lớp. Ngoài ra, giáo viên chủ nhiệm là người cố vấn công tác Đoàn ở lớp chủ nhiệm. Trong quan hệ với các lực lượng giáo dục khác trong và ngoài nhà trường, giáo viên chủ nhiệm là nhân vật trung tâm để hình thành và phát triển nhân cách học sinh và là cầu nối giữa gia đình, nhà trường và ngoài xã hội. Chức năng của người giáo viên chủ nhiệm lớp là lãnh đạo, tổ chức, quản lí, giáo dục tập thể lớp trên cơ sở tổ chức các hoạt động giáo dục, các mối quan hệ giáo dục của học sinh theo mục tiêu giáo dục nhân cách học sinh toàn diện trong tập thể phát triển và môi trường học tập thân thiện. Giáo viên chủ nhiệm lớp, ngoài những công việc của một giáo viên bộ môn giảng dạy trong lớp còn có các nhiệm vụ sau đây:
1.2.1.1. Nghiên cứu, nắm vững tình hình học sinh của lớp
Để làm tốt công tác giáo dục học sinh, nhiệm vụ đầu tiên của giáo viên chủ nhiệm lớp là nghiên cứu để nắm vững tình hình chung của lớp và của từng học sinh. Kết quả nghiên cứu sẽ là những căn cứ để xây dựng mục tiêu, chương trình, kế hoạch năm học để xác định nội dung, phương pháp và các hình thức tổ chức giáo dục phù hợp với đặc điểm của lớp.
1.2.1.2. Xây dựng bộ máy tổ chức tự quản của lớp
Ngay sau khi nhận lớp, giáo viên chủ nhiệm cần suy nghĩ ngay đến việc tổ chức bộ máy tự quản cho lớp, dựa trên nghiên cứu hồ sơ, học bạ và quan sát thực tiễn, chỉ định một ban cán sự lâm thời. Phân lớp thành các tổ học sinh có cơ cấu học sinh nam, nữ, trình độ học tập tương đối đồng đều. Phân công trách nhiệm cho ban cán sự và các tổ trưởng để quản lí học sinh và bắt đầu tổ chức các hoạt động chung. Giáo viên chủ nhiệm trở thành cố vấn về phương pháp công tác cho ban cán sự lớp, cần phát huy vai trò tự quản và tinh thần sáng tạo của các em. Giáo viên chủ nhiệm lớp luôn ủng hộ những sáng kiến của ban cán sự và tất cả học sinh, chỉ đạo thực hiện để các sáng kiến đó trở thành hữu ích. Công tác tổ chức của lớp là một công việc quan trọng, ban cán sự như thế nào thì lớp sẽ phát triển theo chiều hướng đó. Ban cán sự tốt là chỗ dựa vững chắc cho giáo viên chủ nhiệm trong các hoạt động giáo dục học sinh.
1.2.1.3. Thiết lập tốt các mối quan hệ đoàn kết trong tập thể
Tập thể là một tập hợp nhiều người với nhiều mối quan hệ, khi tập thể đã hình thành những mối quan hệ tốt đẹp, bền vững thì lúc đó là tập thể sẽ vững mạnh. Vì vậy, để xây dựng tập thể phải thiết lập cả mối quan hệ tình cảm, quan hệ chức năng và kỉ luật tập thể. Quan hệ tình cảm là quan hệ bạn bè đoàn kết thân ái tương trợ, động viên khích lệ nhau trong học tập, tu dưỡng và cả những mối quan hệ tình cảm khác. Các mối quan hệ này nảy sinh trong hoạt động, giao tiếp và nó tạo thành động lực thúc đẩy sự phát triển của tập thể và giáo dục từng thành viên. Quan hệ tình cảm tốt đẹp, sự đoàn kết thống nhất giữa các thành viên có ý nghĩa cực kì to lớn đối với việc xây dựng tập thể. Trong tập thể thường có hai loại nhóm: nhóm chính thức gồm tổ, đội… và nhóm không chính thức hình thành tự phát, do các em phù hợp nhau về mặt tình cảm, xu hướng, hứng thú. Trong quan hệ tình cảm thì nhóm thứ hai có vai trò to lớn, giáo viên cần lưu ý tận dụng phục vụ cho mục đích giáo dục học sinh của lớp.

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

10;11;12
Chủ nhiệm
4.5/5
TÀI LIỆU WORD

100.000