Logo Kiến Edu

SKKN Một số giải pháp của Giáo viên chủ nhiệm trong việc phát triển năng lực tự chủ và tự học cho học sinh tại trường THPT

Giá:
100.000 đ
Cấp học: THPT
Môn: Chủ nhiệm
Lớp:
Bộ sách:
Lượt xem: 479
File:
TÀI LIỆU WORD
Số trang:
49
Lượt tải:
12

Sáng kiến kinh nghiệm SKKN Một số giải pháp của Giáo viên chủ nhiệm trong việc phát triển năng lực tự chủ và tự học cho học sinh tại trường THPT triển khai gồm các biện pháp nổi bật sau:

– Vai trò của giáo viên chủ nhiệm trong việc nâng cao nhận thức của học sinh về tầm quan trọng của năng lực tự chủ và tự học.
– Vai trò của giáo viên chủ nhiệm trong việc xây dựng và quản lý kế hoạch, nội dung năng lực tự chủ và tự học cho học sinh.
– Vai trò của giáo viên chủ nhiệm trong việc bồi dưỡng phương pháp, kỹ năng phát triển năng lực tự chủ và tự học cho học sinh.
– Vai trò của giáo viên chủ nhiệm trong việc tăng cường phối hợp với các lực lượng giáo dục trong việc phát triển năng lực tự chủ và tự học cho học sinh.
– Đổi mới kiểm tra, đánh giá, động viên, khuyến khích học sinh nhằm phát triển năng lực tự chủ và tự học.

 

Mô tả sản phẩm

PHẦN MỘT: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.Lý do chọn đề tài:
Trong thời đại khoa học kĩ thuật phát triển nhanh chóng như hiện nay, đứng trước cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, nhà trường dù tốt đến mấy cũng không thể đáp ứng hết nhu cầu học tập của người học cũng như đòi hỏi ngày càng cao của đời sống xã hội. Vì vậy, bồi dưỡng và phát triển năng lực tự chủ, tự học cho học sinh khi còn đang ngồi trên ghế nhà trường phổ thông là một công việc có vị trí rất quan trọng. Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội. Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể cũng chỉ rõ các nhóm năng lực mà học sinh cần đạt được. Trong đó, năng lực tự chủ và tự học được xem là nhóm năng lực quan trọng nhất đối với học sinh. Đặc biệt trong tình hình dịch bệnh còn diễn biến phức tạp, có những thời gian học sinh chưa thể đến trường, việc tăng cường ý thức, rèn năng lực tự chủ, tự học để học sinh thích ứng với mọi điều kiện học tập trở nên quan trọng hơn bao giờ hết.
Trường THPT Đô Lương 4 nằm ở vị trí hạ huyện Đô Lương, điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn. Các em học sinh của trường còn nhiều vướng mắc, khó khăn khi học tập, chưa thực sự dành nhiều thời gian cho việc tự học, chưa xây dựng và rèn luyện kĩ năng tự học hợp lí. Tự học  không thường xuyên và còn mang nặng tính hình thức vì thế tính hiệu quả chưa cao. Việc sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực nhằm rèn luyện các kỹ năng sống, kỹ năng giải quyết các tình huống thực tiễn cho học sinh chưa được thực sự quan tâm. Việc ứng dụng công nghệ thông tin, sử dụng các phương tiện, thiết bị dạy chưa được thực hiện rộng rãi.
Với mục tiêu là hình thành “5 phẩm chất, 10 năng lực”, cho học sinh, nền giáo dục trong thời đại mới đã khẳng định giáo viên nói chung và giáo viên làm công tác chủ nhiệm nói riêng  có vai trò quan trọng trong việc tạo bước chuyển  nhằm phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học những năng lực cần thiết, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên trong cuộc sống.
Trước thực tế đó, bản thân tôi thiết nghĩ giáo viên chủ nhiệm lớp có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc phát triển năng lực tự chủ và tự học cho học sinh lớp chủ nhiệm nói riêng và học sinh nói chung góp phần vào mục tiêu phát huy phẩm chất và năng lực, góp phần định hướng nghề nghiệp cho các em. Từ đó hướng đến mục đích đào tạo con người mới Việt Nam phát triển cân đối, hài hòa và toàn diện. Từ những vấn đề nêu trên, với kinh nghiệm thực tế trong công tác giáo viên chủ nhiệm, tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài: “Một số giải pháp của Giáo viên chủ nhiệm trong việc phát triển năng lực tự chủ và tự học cho học sinh tại Trường THPT Đô Lương 4, Nghệ An” góp một phần nhỏ vào việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện ở trường Trung học phổ thông Đô Lương 4 nói riêng và giáo dục phổ thông nói chung.
2. Mục đích nghiên cứu:
Đề  xuất  một  số giải pháp phát huy vai trò của giáo viên chủ nhiệm trong việc phát triển năng lực tự chủ và tự học cho học sinh lớp chủ nhiệm tại trường THPT Đô Lương 4.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu:
3.1. Xác định cơ sở lý luận và thực tiễn.
3.2. Phân tích thực trạng việc phát triển năng lực tự chủ và tự học cho học sinh trường THPT Đô Lương 4.
3.3. Đề xuất một số giải pháp của giáo viên chủ nhiệm trong việc phát triển năng lực tự chủ và tự học cho học sinh lớp chủ nhiệm tại trường THPT Đô Lương 4.
4. Phạm vi nghiên cứu: Trực tiếp tại trường THPT Đô Lương 4.
5. Đối tượng nghiên cứu: Học sinh và giáo viên Trường THPT Đô Lương 4.
6. Phương pháp nghiên cứu:
6.1. Nhóm phương pháp lý luận.
6.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Quan sát, điều tra, khảo sát, tổng kết kinh nghiệm trong quản lý giáo dục.
6.3. Nhóm phương pháp hỗ trợ: Bảng biểu thống kê, sơ đồ…
7. Kết cấu của đề tài: gồm có ba phần:
– Phần một: Đặt vấn đề.
– Phần hai: Nội dung nghiên cứu.
– Phần ba: Kết luận.
PHẦN HAI: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
1. Cơ sở lí luận
1.1. Quan niệm về tự chủ và tự học
Tự chủ là làm chủ bản thân, làm chủ được những suy nghĩ, tình cảm và hành vi của mình trong mọi hoàn cảnh, tình huống luôn bình tĩnh tự tin và tự điều chỉnh hành vi của mình.
Quan niệm về tự học đã được các tác giả trong và ngoài nước đề cập dưới nhiều góc độ, hình thức khác nhau. Theo Thái Duy Tuyên: tự học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng, kĩ xảo,… của người học. Theo Từ điển Giáo dục học: tự học là quá tình tự mình hoạt động, lĩnh hội tri thức khoa học và rèn luyện kĩ năng thực hành không có sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên  và sự quản lí trực tiếp của cơ sở đào tạo. GS Nguyễn Cảnh Toàn cho rằng: tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ và có khi cả cơ bắp và các phẩm chất khác của người học, cả động cơ tình cảm, nhân sinh quan, thế giới quan để chiếm lĩnh một tri thức nào đó của nhân loại, biến tri thức đó thành sở hữu của chính mình.
Như vậy, tự chủ và tự học là quá trình người học tự thực hiện các nhiệm vụ học tập để chiếm lĩnh tri thức khoa học, rèn luyện các kĩ năng, kĩ xảo. Tự học có thể diễn ra cả ở trên lớp và ngoài lớp học, theo hoặc không theo chương trình và sách giáo khoa đã được ban hành. Đó là một hoạt động mang tính tích cực, chủ động, tự giác nhằm đạt được mục tiêu học tập của người học.
1.2. Quan niệm về năng lực và năng lực tự chủ, tự học
Theo Chương trình Giáo dục phổ thông tổng thể của Bộ GD-ĐT, năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,… để thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể. Từ quan niệm trên, có thể coi năng lực là tổng thể những phẩm chất tâm lí, sinh lí, tri thức, kĩ năng, thái độ và kinh nghiệm của mỗi cá nhân có khả năng hoàn thành một hoạt động với chất lượng cao.
Theo GS Nguyễn Cảnh Toàn: năng lực tự học được hiểu là một thuộc tính kĩ năng rất phức hợp, bao gồm các kĩ năng và kĩ xảo, cần gắn với động cơ và thói quen tương ứng, giúp người học có thể đáp ứng được những yêu cầu mà công việc đặt ra. Năng lực tự học còn là sự bao hàm cả cách học, kĩ năng và nội dung học tập, là sự tích hợp tổng thể cách học và kĩ năng tác động đến nội dung trong hàng loạt tình huống – vấn đề khác nhau.
Như vậy, có thể hiểu, năng lực tự chủ và tự học là khả năng xác định được nhiệm vụ học tập một cách tự giác, chủ động; tự đặt ra được mục tiêu học tập để nỗ lực phấn đấu thực hiện; thực hiện các phương pháp học tập hiệu quả; khắc phục những sai sót, hạn chế của bản thân khi giải quyết các nhiệm vụ học tập thông qua tự đánh giá hoặc lời nhận xét của giáo viên, của bạn; biết tự tìm kiếm sự hỗ trợ khi gặp khó khăn trong học tập. Năng lực tự chủ và tự học tuy là khả năng “bẩm sinh” của mỗi người nhưng cần được rèn luyện thường xuyên thông qua các hoạt động thực tiễn, nếu không nó sẽ chỉ là khả năng tiềm ẩn của con người.
1.3. Năng lực tự chủ và tự học của học sinh ở trường phổ thông Trong Chương trình giáo dục phổ thông 2018
– Chương trình tổng thể (ban hành ngày 26/12/2018), Bộ GD-ĐT đã đặt ra yêu cầu cần đạt về năng lực tự chủ và tự học, tự hoàn thiện đối với học sinh trung học phổ thông như sau:
– Xác định được nhiệm vụ học tập dựa trên kết quả đã đạt được; biết đặt mục tiêu học tập chi tiết, cụ thể, khắc phục những hạn chế.
– Đánh giá và điều chỉnh được kế hoạch học tập; hình thành cách học riêng của bản thân; tìm kiếm và lựa chọn được nguồn tài liệu phù hợp với mục đích, nhiệm vụ học tập khác nhau; ghi chép thông tin bằng các hình thức phù hợp, thuận lợi cho việc ghi nhớ; sử dụng, bổ sung khi cần thiết.
– Tự nhận ra và điều chỉnh được những sai sót, hạn chế của bản thân trong quá trình học tập; biết rút kinh nghiệm để có thể vận dụng vào các tình huống khác nhau, biết tự điều chỉnh lại cách học.
– Biết thường xuyên tu dưỡng theo mục tiêu phấn đấu của cá nhân. Biết rèn luyện, khắc phục những hạn chế của bản thân. Để có thể đáp ứng được những yêu cầu trên, giáo viên ở các trường phổ thông cần vận dụng phương pháp dạy học phù hợp để phát huy tối đa năng lực tự chủ và tự học của học sinh.
1.4. Vai trò của hoạt động tự học
Trong quá trình học tập của người học, hoạt động tự học có những vai trò sau:
– Nâng cao kiến thức và hiệu quả học tập. Trong quá trình tự học, học sinh cần vận dụng các năng lực trí tuệ để giải quyết vấn đề. Điều này đòi hỏi học sinh phải là chủ thể của quá trình nhận thức, biết cách tự tìm tòi, đào sâu suy nghĩ, phê phán,… để hiểu kiến thức sâu sắc hơn.
– Giúp người học có khả năng tự giải quyết các vấn đề học tập, biết vận dụng vào giải quyết các vấn đề thực tiễn. Trong hoạt động tự học, kiến thức mà người học chiếm lĩnh được thông qua các hoạt động tư duy của bản thân. Người có khả năng tự học có thể thu thập và xử lí thông tin, biết vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn và tự kiểm tra, đánh giá hoạt động học tập của mình.
– Hình thành các kĩ năng, phương pháp học tập khoa học. Khi tự học, các thao tác tư duy lặp đi lặp lại nhiều lần, góp phần hình thành cho người học các kĩ năng, phương pháp học tập cho người học. Do vậy, tự học là cốt lõi của cách học, như Bác Hồ đã từng nói: “về cách học phải lấy tự học làm cốt”.
– Rèn luyện tư duy cho người học. Khi tự học, người học phải sử dụng các thao tác tư duy như so sánh, phân tích, tổng hợp, quy nạp, khái quát, trừu tượng hóa,… để giải quyết nhiệm vụ đặt ra, do đó tư duy cũng được rèn luyện thường xuyên. Trong quá trình học tập, với cùng một lượng kiến thức nhưng các nhiệm vụ đặt ra ngày càng cao, điều này giúp người học rèn luyện được các kĩ năng và năng lực giải quyết vấn đề, từ đó tư duy của người học cũng dần được phát triển.
– Nâng cao khả năng tiếp nhận thông tin cho người học. Trong thời đại bùng nổ thông tin như hiện nay, các nguồn thông tin được cung cấp đa dạng dưới nhiều phương thức và hình thức khác nhau. Do vậy, nếu người học có kĩ năng tự học tốt sẽ vận dụng được nguồn thông tin phong phú, đa dạng trong việc thu nhận kiến thức cho mình. Ngày nay, tự học có vai trò quan trọng, là điều kiện quyết định thành công và có ý nghĩa đối với sự phát triển toàn diện của con người.
1.5. Những biểu hiện của năng lực tự chủ và tự học
Năng lực tự chủ và tự học là một khái niệm trừu tượng và bị chi phối bởi rất nhiều yếu tố. Trong nghiên cứu khoa học, để xác định được sự thay đổi các yếu tố của năng lực tự chủ và tự học sau một quá trình học tập, các nhà nghiên cứu đã tập trung mô phỏng, xác định những dấu hiệu của năng lực tự học được bộc lộ ra ngoài gồm 12 biểu hiện.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Nhóm đặc biệt bên ngoài: chính là phương pháp học nó chứa đựng các kỹ năng học tập cần phải có của người học, chủ yếu được hình thành và phát triển trong quá trình học, do đó phương pháp dạy của giáo viên sẽ có tác động rất lớn đến phương pháp học của học trò, tạo điều kiện để hình thành, phát triển và duy trì năng lực tự chủ và tự học.
Nhóm đặc điểm bên trong (tính cách) được hình thành và phát triển chủ yếu thông qua các hoạt động sống, trải nghiệm của bản thân và bị chi phối bới yếu tố tâm lý. Chính vì điều đó mà giáo viên nên tạo môi trường để học sinh được thử nghiệm và kiểm chứng bản thân, đôi khi chỉ cần phản ứng đúng sai trong nhận thức hoặc nhận được lời động viên, khích lệ cũng tạo ra được động lực để người học phấn đấu, cố gắng tự học.
Vấn đề tự chủ và tự học của học sinh trong trường phổ thông đã xác định năng lực tự học có những biểu hiện sau:

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Như vây, năng lực tự chủ và tự học cũng là một khả năng, một phẩm chất “vốn có” của mỗi cá nhân. Tuy nhiên nó luôn luôn biến đổi tùy thuộc vào hoạt động của cá nhân trong môi trường văn hóa – xã hội. năng lực tự học là khả năng bẩm sinh của mỗi người nhưng phải được đào tạo, rèn luyện trong hoạt động thực tiễn thì nó mới bộc lộ được những ưu điểm giúp cho cá nhân phát triển, nếu không sẽ mãi là khả năng tiềm ẩn. Thời gian mỗi chúng ta ngồi trên ghế nhà trường là rất ngắn ngủi so với cuộc đời vì vậy tự học và năng lực tự học của học sinh sẽ là nền tảng cơ bản đóng vai trò quyết định đến sự thành công của các em trên con đường phía trước và đó cũng chính là nền tảng để các em tự học suốt đời.
1.6. Vai trò của giáo viên chủ nhiệm trong việc phát triển năng lực tự chủ và tự học cho học sinh lớp chủ nhiệm tại trường THPT Đô Lương 4.
Để học sinh biết tìm đến với hoạt động tự học, giáo viên chủ nhiệm cần giúp học sinh thấy rõ ý nghĩa của việc tự chủ và tự học: đó là sự chủ động sáng tạo và tự lực thực hiện nhiệm vụ học tập để từng bước chiếm lĩnh tri thức và vận dụng kiến thức vào thực tiễn một cách vững chắc. Tự học sẽ giúp con người phát triển tính tự giác, tự lực, không thụ động và ỷ lại vào người khác, quen với việc làm việc độc lập, đáp ứng yêu cầu phát triển của thời đại văn minh, tự giúp mình bồi dưỡng hứng thú học tập, rèn luyện ý chí phấn đấu, kiên trì, nâng cao niềm tin vào năng lực bản thân.
Để kích thích cho học sinh biết khao khát, muốn chủ động thực hiện thêm các hoạt động học tập của mình để tự hệ thống, mở rộng, nâng cao và làm chủ lượng kiến thức đã được thầy cô giáo bộ môn truyền thụ ở mức độ cơ bản. Giáo viên chủ nhiệm phải hướng dẫn cho các em phương pháp tự học một cách tự giác và đầy chủ động: biết tự chủ về kế hoạch và hình thức tự học, có tổ chức và kiểm soát mức độ kết quả đạt được, biết phát hiện, sàng lọc, đúc kết, biết vận dụng… đối với nguồn kiến thức phong phú sinh động, rộng rãi…biết tự khai thác, nắm bắt khi thực hiện các hoạt động tìm tòi, khám phá, sáng tạo…để thỏa mãn ý thức học hỏi của bản thân.
2. Cơ sở thực tiễn
2.1. Thực trạng hoạt động tự học của học sinh trường THPT Đô Lương 4
2.1.1. Thực trạng nội dung, phương pháp hoạt động tự học
Năng lực tự chủ và tự học của học sinh THPT nói chung của học sinh trường THPT Đô Lương 4, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An nói riêng gồm: ôn tập lại bài, làm các bài tập nhằm củng cố, vận dụng kiến thức, đọc sách giáo khoa tài liệu sách giáo khoa tham khảo để chuẩn bị bài mới, đọc các tài liệu liên quan làm bài tập nâng cao mở rộng khác.
Để nắm được hiện trạng, tôi tiến hành khảo sát “Em hãy cho biết mức độ các hoạt động em thường làm khi tự học ở nhà? “ về mức độ thường xuyên, thỉnh thoảng, không bao giờ của học sinh thực hiện các nội dung tự học ở nhà và chúng tôi thu được kết quả như bảng 2.1.
Bảng 2.1. Cơ cấu mức độ các hoạt động khi tự học ở nhà của học sinh
THPT Đô Lương 4(%)
TT Các hoạt động Thường xuyên
Thỉnh thoảng Không bao giờ
12A3 12A1 12A3 12A1 12A3 12A1
1 Ôn lại bài cũ. 48 90 44 10 8 0
2 Làm bài tập theo yêu cầu 50 75 38 25 12 0
3 Đọc sách giáo khoa, chuẩn bị bài mới. 26 20 46 55 28 25
4 Hỏi và trao đổi bài với thầy cô giáo 2 5 22 45 76 50
Khảo sát từ HS trường THPT Đô Lương 4 tháng 2/2021
Qua bảng ta thấy rằng, học sinh THPT khi tự học ở nhà chuẩn học ôn tập bằng cách học nguyên lại vở ghi, xem lại lý thuyết và làm các bài tập là nội dung thường xuyên chủ yếu, và có rất ít học sinh chuẩn bị bài mới bằng cách đọc và nghiên cứu trước sách giáo khoa, tìm đọc các sách, tài liệu tham khảo. Đại đa số giáo viên và học sinh cho rằng học sinh ít khi trao đổi với thầy cô giáo. Chứng tỏ, các em học sinh còn học hành mang tính thụ động đối phó với thầy cô giáo. học sinh chưa đào sâu suy nghĩ, chưa chủ động và sáng tạo trong học tập, thiếu mạnh dạn và tự tin khi trao đổi với giáo viên.
Quá trình tự học ở nhà của học sinh ở nhà có nhiều môn học liên quan và làm các bài tập nâng cao. Điều này chứng tỏ rằng, mỗi học sinh khác nhau, các môn học có thời lượng, phương pháp và nội dung khác nhau.
Việc xác định mục tiêu cụ thể cho từng công việc gắn với ý nghĩa quan trọng gì, lý do thực hiện mục tiêu đó là gì? Một khi, mục tiêu có nhiều lý do hướng tới thì ta càng có động lực để hoàn thành nó.
Để đánh giá cách thức sắp xếp hoạt động tự học của học sinh THPT chúng tôi tiến hành khảo sát bằng cách đặt câu hỏi học sinh: “Em thường đặt mức độ ưu tiên trong việc sắp xếp các môn  học  theo tiêu chí nào?”. Sau khi khảo sát, chúng tôi thấy có sự khác nhau về mức độ ưu tiên trong sắp xếp môn học của các em học sinh.
Mặc dù vậy, theo kết quả khảo sát chỉ có 16% HS sắp xếp công việc theo mức độ quan trọng. Chứng tỏ rằng, số học sinh này đã nhận thức được tầm quan trọng trong công việc từ đó hoàn thành được công việc học tập của mình một cách có hiệu quả nhất.
Phần lớn học sinh sắp xếp việc học theo sở thích (24%), cảm xúc vì vậy nên kiểu người này thường làm việc theo cảm tính, công việc nào thích thì làm trước, không thích làm sau, không theo tuần tự, dễ bỏ dở công việc những môn học không đúng sở thích, làm theo kiểu qua chuyện và đối phó.
Đồng thời qua phỏng vấn sâu các em học sinh, chúng tôi cũng nhận thấy hình thức học tập của học sinh ở nhà cơ bản là tự học một mình, rất ít em học nhóm với bạn hay học với người khác.
2.1.2. Thực trạng hoạt động tự học của học sinh ở lớp
Hoạt động tự học cơ bản diễn ra ở thời gian ngoài giờ lên lớp. Hoạt động học trên lớp theo hướng đổi mới phương pháp dạy học thì giáo viên là tổ chức, hướng dẫn học sinh chiếm lĩnh tri thức, hình thành kĩ năng và năng lực cho người học. Học sinh ở trên lớp hiện nay cần tích cực chủ động sáng tạo dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Như vậy, hoạt động tự học trên lớp là tự học có điều khiển có sắp xếp và quản lý điều chỉnh của giáo viên. Vì vậy, chất lượng hoạt động tự học trên lớp không chỉ đơn thuần phụ thuộc vào người học mà còn phụ thuộc người dạy.
Để nắm hiện trạng hoạt động tự học của học sinh THPT Đô Lương 4 ở trên lớp tôi sử dụng câu hỏi khảo sát giáo viên và học sinh. Đối với học sinh tôi sử dụng câu hỏi khảo sát “Em hãy cho biết mức độ các hoạt động em thường làm khi khi  học ở trên lớp?”. Đối với giáo viên tôi sử dụng câu hỏi “Theo thầy (cô), mức độ các hoạt động học sinh thường làm khi khi  học ở trên lớp?”. Sau khi khảo sát, chúng tôi thu được kết quả bảng 2.2.
Các hoạt động học trên lớp của học sinh bao gồm: lắng nghe, ghi chép giảng bài của thầy cô giáo, sử dụng vở nháp và phiếu học tập để hoàn thành các nhiệm vụ mà thầy cô giao, hỏi và trao đổi bài với bạn bè, hỏi và trao đổi bài với thầy cô giáo. Có thể nói hoạt động tự học trên lớp là tự học có sự tổ chức, hướng dẫn và điều chỉnh của thầy cô giáo. Qua số liệu thống kê, chúng tôi thấy rằng hoạt động học tập của học sinh trên lớp mức độ thường xuyên là lắng nghe, ghi chép giảng bài của thầy cô giáo, sử dụng vở nháp và phiếu học tập để hoàn thành các nhiệm vụ mà thầy cô giao, rất ít học sinh hỏi và trao đổi bài với bạn bè, hỏi và trao đổi bài với thầy cô giáo. Điều này chứng tỏ, hoạt động học tập của các em ở lớp phần lớn đang còn thụ động, chưa tích cực, chủ động, sáng tạo.
Bảng 2.2. Cơ cấu mức độ hoạt động học khi học ở lớp của học sinh THPT Đô Lương 4(%)

 

TT

Các hoạt động Thường xuyên
Thỉnh thoảng Không bao giờ
12A3 12A1 12A3 12A1 12A3 12A1
1 Lắng nghe, ghi chép giảng bài của GV 86 90 12 10 2 0
2 Sử dụng vở nháp và phiếu học tập để hoàn thành các nhiệm vụ mà thầy cô giao. 14 35 80 65 6 0
3 Hỏi và trao đổi bài với bạn bè. 36 10 56 65 8 25
4 Khai thác kiến thức từ Internet 6 5 54 60 40 35
Khảo sát từ HS tại THPT Đô Lương 4 tháng 2/2021
2.1.3. Thực trạng kỹ năng định hướng hoạt động tự học
Kĩ năng định hướng là cơ sở đầu tiên định hướng hành động tự học diễn ra thành công và hiệu quả. Kĩ năng định hướng tự học là hệ thống các định hướng, chỉ dẫn mà chủ thể người học có thể sử dụng để thực hiện một hành động học. Nó giúp chủ thể nhận thức được đối tượng, vạch kế hoạch, thực hiện kế hoạch, kiểm tra và điều chỉnh hành động theo kế hoạch.
Trong quá trình tự học muốn đạt kết quả cao thì động cơ có ý nghĩa hàng đầu. Tự học có động cơ thì người học sẽ say mê, tự giác, tích cực chủ động với những mục tiêu đã đề ra. Điều tra về động cơ học của hoạt động tự học của học sinh THPT Đô Lương 4 tôi sử dụng câu hỏi: “ Động cơ tự học của em là gì?”. Kết quả khảo sát như sau:
Theo kết quả điều tra, số học sinh cho rằng động cơ học tập của mình là để đạt kết quả cao trong các kỳ thi chiếm 64% chiếm tỷ lệ đa số, còn số học sinh có động cơ tự học của mình để tích lũy kiến thức cho cuộc sống và công việc sau này chiếm 36% rất thấp. Điều này cho thấy rằng phần lớn học sinh mới chỉ xác định động cơ học ngắn hạn, trước mắt vì vậy nó sẽ ảnh hưởng tới hứng thú của học sinh, hiệu quả của hoạt động tự học.
Để nắm rõ thực trạng học sinh dành thời gian cho hoạt động tự học ngoài giờ lên lớp, tôi đã tiến hành khảo sát câu hỏi: “ Em thường tự học ở nhà với khoảng thời gian bao nhiêu trong 1 ngày?” đối với học sinh và câu hỏi cho giáo viên: “Theo thầy (cô), học sinh thường tự học ở nhà với khoảng thời gian bao nhiêu trong 1 ngày?”.
Biểu đồ 2.1. Cơ cấu thời gian tự học ở nhà của HS THPT Đô Lương 4 (%)

Khảo sát GV và HS THPT Đô Lương 4 tháng 2/2021
Theo kết quả khảo sát từ giáo viên về thời gian tự học của học sinh trong 1 ngày có 55% ý kiến cho rằng học sinh tự học một ngày từ khoảng 1-2 giờ, có 45% ý kiến cho rằng học sinh tự học từ 3 giờ, có 0% ý kiến cho rằng học sinh tự học trên 3 giờ. Về ý kiến của học sinh về vấn đề này chúng tôi cũng thu được kết quả tương tự với ý kiến của giáo viên. Cụ thể là về thời gian tự học của học sinh trong 1 ngày có 66% ý kiến cho rằng học sinh tự học một ngày từ khoảng 1-2 giờ, có 38% ý kiến cho rằng học sinh tự học từ 3 giờ, có 0% ý kiến cho rằng học sinh tự học trên 3 giờ. Như vậy, có thể thấy rằng thời gian mà một học sinh dành cho hoạt động tự học còn rất hạn chế. Theo phỏng vấn sâu chúng tôi thấy rằng học sinh tự học với thời gian nhiều hơn khi kiểm tra, thi khảo sát. Điều này cho thấy học sinh còn học theo kiểu thời vụ, trước mắt để thi cử mà không chú ý đến việc tự học để tích lũy tri thức, hình thành kĩ năng, năng lực của bản thân cho cuộc sống và công việc sau này. Vì thế, hoạt động học của học sinh hời hợt hiệu quả thấp, học trước quên sau.
2.1.4. Thực trạng về  năng lực lập kế hoạch tự chủ và tự học của học sinh
Muốn tự học đạt kết quả thì khả năng lập kế hoạch học tập là rất cần thiết đối với mỗi cá nhân người học. Để nắm rõ thực trạng trong lập kế hoạch của học sinh THPT Đô Lương 4 chúng tôi đặt câu hỏi khảo sát: “Em có thường xuyên thực hiện việc lập kế hoạch cho hoạt động tự học như dưới đây không ? Mức độ thường xuyên của từng hoạt động như thế nào ?”. Sau khảo sát, chúng tôi thu được kết quả bảng 2.2.
Bảng 2.2. Cơ cấu mức độ lập kế hoạch cho hoạt động tự học của HS THPT Đô Lương 4 (%)
TT Các hoạt động Thường xuyên Thỉnh thoảng Không bao giờ
1 Lập kế hoạch cho ngày mai và ghi chép ra giấy, sổ, điện thoại nhắc việc. 8 30 62
2 Xác định mục tiêu , yêu cầu cho mỗi hoạt động tự học thật phù hợp. 16 68 16
3 Sắp xếp tự học các môn  theo thứ tự ưu tiên. 48 40 12
4 Xác định nội dung , cách thức tiến hành tự học. 12 62 26
Khảo sát từ HS tại THPT Đô Lương 4 tháng 2/2021
Kĩ năng lập kế hoạch học tập là kĩ năng đóng vai trò quan trọng trong quá trình học tập. Lập kế hoạch trong hoạt động tự học giúp cho người xác định mục tiêu trong học tập. Nó dẫn dắt chỉ đường cho hoạt động tự học, thúc đẩy cá nhân hành động giúp người học đạt mục tiêu hiệu quả nhất bằng con đường và công việc cụ thể đã được lên kế hoạch sẵn. Lập kế hoạch học tập cụ thể giúp cho học sinh định hướng bước đi cụ thể và chính xác hơn trong học tập.
Từ số liệu thống kê ta thấy chỉ có 8% học sinh được khảo sát thường xuyên tiến hành lập kế hoạch học tập, lên thời gian biểu, ghi chép ra giấy, số học sinh thường xác định mục tiêu, yêu cầu mỗi hoạt động học tập cho phù hợp chỉ chiếm 16%, có 40% số học sinh thường xuyên sắp xếp theo thứ tự công việc ưu tiên một cách khoa học và có 12% HS xác định nội dung, cách thức tiến hành công việc mức độ thường xuyên. Như vậy, tuy số học sinh này không nhiều nhưng điều này chứng tỏ số học sinh này đã nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của việc lập kế hoạch trong hoạt động tự học. Tuy nhiên, đại đa số học sinh còn chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc lên kế hoạch tự học và chưa hình thành được kĩ năng lên kế hoạch tự học để quản lý thời gian học, tiến hành hoạt động tự học một cách hiệu quả. Cụ thể là có 62% học sinh không bao giờ lập kế hoạch học tập, lên thời gian biểu, ghi chép ra giấy, sổ, có 16% số học sinh không bao giờ xác định mục tiêu, yêu cầu mỗi hoạt động học tập cho phù hợp, có 12% số học sinh không bao giờ sắp xếp theo thứ tự công việc ưu tiên một cách khoa học và có 26% học sinh không bao giờ xác định nội dung, cách thức tiến hành công việc. Điều này được thể hiện thái độ, phong cách học tập chưa hiệu quả nên ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động tự học.
Học sinh thường sắp xếp hoạt động tự học theo nhiều tiêu chí khác nhau như: theo mức độ quan trọng, mức độ cần thiết, theo sở thích, theo nội dung môn học. Hoạt động tự học gắn với mức độ quan trọng là những việc mang tính mục tiêu chiến lược, mục tiêu dài hạn, mức độ ngắn hạn. Hoạt động gắn với mức độ cần thiết thường là những công việc có tính cấp bách như đến các kỳ thi. Những công việc mang tính cảm xúc chủ quan và phụ thuộc vào mỗi cá nhân là công việc theo sở thích. Phần lớn học sinh sắp xếp việc học theo sở thích, cảm xúc vì vậy nên kiểu người này thường làm việc theo cảm tính, công việc nào thích thì làm trước, không thích làm sau, không theo tuần tự, dễ bỏ dở công việc những môn học không đúng sở thích, làm theo kiểu qua chuyện và đối phó.
Kế hoạch học tập bao gồm có kế hoạch ngắn hạn, kế hoạch dài hạn, trung hạn tùy vào thời lượng của việc học cụ thể. Trong quá trình học tập, học sinh có thể lập kế hoạch theo ngày, theo tuần, theo tháng, theo học kỳ, theo năm học.
Để có cái nhìn tổng quan và chi tiết học sinh THPT lập kế hoạch như thế nào chúng tôi đã đặt câu hỏi khảo sát: “Em thường lập kế hoạch tự học khoảng thời gian nào?”. Sau khi khảo sát, tôi thu được kết quả biểu đồ 2.3.
Biểu đồ 2.3. Cơ cấu thời gian lập kế hoạch tự học của học sinh THPT Đô Lường 4 (%)

Khảo sát từ HS tại THPT Đô Lương 4 tháng 2/2021
Dựa vào kết quả khảo sát trên, đại đa số học sinh đều lập kế hoạch ngắn hạn, có tới 62% học sinh chỉ lập kế hoạch theo ngày. Chỉ có 4% học sinh lập kế hoạch cho cả năm học chứng tỏ số học sinh này có tầm nhìn dài hạn, có phương hướng và mục tiêu phấn đấu dài hạn, hợp lý.
Kỹ năng lập kế hoạch học tập là tiền đề, là yếu tố quyết định để quản lý thời gian học tập hợp lý. Để quản lý thời gian hợp lý, học tập hiệu quả cao thì nhất thiết phải lập một bản kế hoạch học tập hợp lý. Kế hoạch học tập hợp lý sẽ giúp cho người học dễ dàng trong việc xác định mục tiêu, nội dung, phương pháp học trên cơ sở đó giúp người học chiếm lính được tri thức dễ dàng.
Từ những nghiên cứu trên, ta thấy có một số học sinh đã biết lên kế hoạch hợp lý và khoa học những học sinh này có mục tiêu trong học tập cũng như biết xác định nội dung, phương pháp và hình thức tự học. Tuy nhiên, phần lớn học sinh chưa biết lên kế hoạch hợp lý chứng tỏ những  học sinh này không nhận thức được tầm quan trọng của kế hoạch học tập nên chất lượng tự học chưa cao. Vì vậy, để nâng cao năng lực tự chủ và tự học cho học sinh thì phải định hướng kĩ năng lập kế hoạch học tập.
2.2. Thực trạng quản lý của giáo viên chủ nhiệm đối với hoạt động tự học của học sinh trường THPT Đô Lương 4
Nhận thức của giáo viên chủ nhiệm về quản lý hoạt động tự học của học sinh các trường THPT Đô Lương 4 nhìn chung đều nhận thức được vai trò của công tác quản lý hoạt động tự học. Tuy nhiên, cũng còn nhiều GVCN chưa nhất trí cao, thậm chí đánh giá thấp một số vai trò quản lý hoạt động tự học của học sinh.
Thực trạng quản lý xây dựng, bồi dưỡng động cơ tự học cho học sinh: trường THPT Đô Lương 4 đã tổ chức các hoạt động nhằm giúp học sinh nâng cao nhận thức về truyền thống của nhà trường, hiểu rõ quyền lợi, nghĩa vụ của mình. Tuy nhiên, công tác quản lý xây dựng và bồi dưỡng động cơ tự học của GVCN cho học sinh còn nhiều nội dung chưa được quan tâm đúng mức, chưa tạo được động lực đủ mạnh thúc đẩy học sinh tự học.
2.3. Đánh giá chung về thực trạng quản lý của giáo viên chủ nhiệm đối với hoạt động tự học của học sinh trường THPT Đô Lương 4
2.3.1. Những điểm mạnh
– Nhiều học sinh đã có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của việc tự học.
– Nhà trường đã luôn luôn chỉ đạo, tạo mọi điều kiện về cơ sở vật chất kỹ thuật, khuyến khích học sinh tự học.
– Cán bộ giáo viên, công nhân viên nhà trường từ giáo viên bộ môn đến GVCN, cán bộ thư viện luôn luôn có ý thức đổi mới công tác định hướng, hoạt động dạy học tạo điều kiện cho học sinh phát huy tính tích cực chủ động trong quá trình học tập của mình.
– Qua thực tế trong thời gian gần đây chất lượng giáo dục đại trà cũng như chất lượng giáo dục mũi nhọn của nhà trường ngày càng nâng cao, vì thế trường ngày càng khẳng định được vị trí, vai trò của mình trong hệ thống các trường THPT trong huyện.
2.3.2. Những điểm yếu
– Nhiều học sinh chưa có động cơ học tập đúng đắn, chưa xác định nội dung, phương pháp, hình thức tự học phù hợp. Đa số học sinh còn thiếu kỹ năng tự học.
– Công tác xây dựng, bồi dưỡng động cơ tự học cho học sinh chưa được nhà tường quan tâm đúng mức. Việc hướng dẫn học sinh lập kế hoạch tự học và kiểm tra việc thực hiện kế hoạch tự học chưa thường xuyên. Công tác tổ chức bồi dưỡng phương pháp, kỹ năng tự học cho học sinh chưa được chú trọng.
– Sự phối hợp giữa các lực lượng giáo dục của nhà trường trong việc tổ chức, hướng dẫn hoạt động tự học của học sinh chưa đồng bộ. Các điều kiện cơ sở vật chất, phương tiện phục vụ tự học của học sinh chưa đáp ứng đầy đủ.
2.3.3. Phân tích nguyên nhân thực trạng
a. Nguyên nhân khách quan
– Nội dung chương trình học hiện nay còn nặng nề, quá tải đối với học sinh.
– Cơ sở vật chất trường còn thiếu thốn, kinh phí sửa chữa hạn hẹp.
b. Nguyên nhân chủ quan
– Học sinh  nhận thức chưa đầy đủ vai trò của tự học, năng lực tự học còn hạn chế, chưa nỗ lực, kiên trì trong quá trình học tập.
– Giáo viên chưa tích cực đổi mới PPDH, đổi mới kiểm tra, đánh giá nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong học tập, đặc biệt là tự học.

 

0/5 (0 Reviews)
0/5 (0 Reviews)

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

10;11;12
Chủ nhiệm
4.5/5
TÀI LIỆU WORD

100.000 

Theo dõi
Thông báo của
guest
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
Set your categories menu in Theme Settings -> Header -> Menu -> Mobile menu (categories)
Shopping cart

KẾT NỐI NGAY VỚI KIẾN EDU

Chúng tôi luôn sẵn sàng lắng nghe và đưa ra giải pháp phù hợp nhất cho vấn đề của bạn.

0886945229

Email

kienedu.com@gmail.com

Đây chỉ là bản XEM THỬ - khách hàng vui lòng chọn mua tài liệu và thanh toán để nhận bản đầy đủ

TẢI TÀI LIỆU

Bước 1: Chuyển phí tải tài liệu vào số tài khoản sau với nội dung: Mã tài liệu

Chủ TK: Ngô Thị Mai Lan

STK Agribank: 2904281013397 Copy
* (Nếu khách hàng sử dụng ngân hàng Agribank thì chuyển tiền vào STK Agribank để tránh bị lỗi treo giao dịch)
STK TPbank: 23665416789 Copy
tài khoản tpbank kienedu

Bước 2: Gửi ảnh chụp giao dịch vào Zalo kèm mã tài liệu để nhận tài liệu qua Zalo hoặc email

Nhắn tin tới Zalo Kiến Edu (nhấn vào đây để xác nhận và nhận tài liệu!)