SKKN Một số kinh nghiệm dạy học giúp học sinh lớp 5 phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa

4.5/5

Giá:

50.000 đ
Cấp học: Tiểu học
Môn: Tiếng Anh
Lớp: 5
Bộ sách:
Lượt xem: 199
File:
TÀI LIỆU WORD
Số trang:
24
Lượt tải:

6

Sáng kiến kinh nghiệmSKKN Một số kinh nghiệm dạy học giúp học sinh lớp 5 phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa triển khai các biện pháp như sau: 

3.1. Tìm hiểu nguyên nhân học sinh thường gặp khó khăn khi phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa.
3.2. Giúp học sinh nắm vững khái niệm và sự khác nhau cơ bản giữa từ đồng âm và từ nhiều nghĩa.
3.3. Xây dựng phương pháp dạy về từ đồng âm và từ nhiều nghĩa.
3.4. Xây dựng hệ thống bài tập về từ đồng âm và từ nhiều nghĩa giúp học sinh phân biệt từ đồng âm với từ nhiều nghĩa.

 

Mô tả sản phẩm

  1. MỞ ĐẦU
  2. Lí do chọn đề tài

Trong những năm qua giáo dục tiểu học đã và đang thực hiện đổi mới toàn diện, đồng bộ nội dung, chương trình giáo dục và đổi mới phương pháp dạy học. Chương trình môn Tiếng Việt cũng có thay đổi đáng kể cả về nội dung và cấu trúc chương trình. Một số nội dung khó được lược bỏ và sắp xếp lại cho phù hợp với từng khối lớp, và mức độ kiến thức cũng có sự  thay đổi. 

Trong chương trình môn Tiếng Việt lớp 5, phân môn Luyện từ và câu, phần nội dung nghĩa của từ được tập trung biên soạn một cách khoa học và có hệ thống. Từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa, từ đồng âm, từ nhiều nghĩa là mảng kiến thức quan trọng của phân môn Luyện từ và câu. Qua thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy các em học sinh dễ dàng tìm được các từ trái nghĩa, việc tìm các từ đồng nghĩa cũng không khó khăn, tuy nhiên giữa từ đồng âm và từ nhiều nghĩa thì học sinh thường nhầm lẫn và khả năng phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa là khó đối với học sinh. Mặt khác, khi dạy về từ nhiều nghĩatừ đồng âm  hầu như giáo viên ít có sách tham khảo, chưa có nhiều tài liệu đề cập đến vấn đề này. Trăn trở về vấn đề trên, qua nhiều năm dạy lớp 5, cũng như làm công tác quản lí trực tiếp phụ trách chuyên môn khối 5, tôi đã rút ra một số kinh nghiệm nhỏ về cách hướng dẫn học sinh phân biệt từ đồng âm với từ nhiều nghĩa. Vì thế, tôi đã chọn sáng kiến kinh nghiệm: “Một số kinh nghiệm dạy học giúp học sinh lớp 5 phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa”

  1. Mục đích nghiên cứu

Tôi chọn đề tài này nghiên cứu với mục đích :

– Giúp học sinh tháo gỡ những nhầm lẫn giữa từ đồng âm với từ nhiều nghĩa góp phần làm giàu thêm vốn từ cho học sinh .

– Giúp học sinh thiết lập mối quan hệ của từ với sự vật và tách được ý nghĩa từ vựng của từ khỏi sự vật được biểu thị bởi từ .

– Giúp học sinh có năng lực sử dụng từ đồng âm và từ nhiều nghĩa trong khi nói hoặc viết, để từ đó các em sử dụng được vốn từ làm công cụ giao tiếp tư duy.

  1. Đối tượng nghiên cứu

Một số kinh nghiệm giúp HS phân bịêt về từ đồng âm và từ nhiều nghĩa 

  1. Phương pháp nghiên cứu

– Phương pháp xây dựng cơ sở lí thuyết.

– Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế.

– Phương pháp thu thập thông tin.

– Phương pháp thống kê. 

– Phương pháp tổng kết kinh nghiệm 

  1. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
  2. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm

Môn Tiếng Việt có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh những tri thức về hệ thống Tiếng Việt (hệ thống âm thanh, cấu tạo từ, cấu trúc ngữ pháp, khả năng biểu cảm của ngôn ngữ, quy tắc họat động của ngôn ngữ), đồng thời hình thành cho học sinh kĩ năng giao tiếp (nghe, nói, đọc, viết). Ngoài ra Tiếng Việt còn là công cụ giao tiếp và tư duy. Môn Tiếng Việt còn trang bị cho học sinh một số công cụ để tiếp nhận và diễn đạt mọi kiến thức khoa học. Tiếng Việt là công cụ để học các môn học khác. Các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết là phương tiện, là điều kiện thiết yếu của quá trình học tập. Chính vì thế, giáo viên phải có những phương pháp dạy học phù hợp với đặc trưng của bộ môn, mặt khác phải có kiến thức Tiếng Việt vững vàng và không  ngừng học hỏi để nâng cao trình độ .

Qua thực tế giảng dạy, qua dự giờ của đồng nghiệp cho thấy việc dạy học mảng kiến thức về nghĩa của từ còn nhiều vấn đề cần phải quan tâm, bàn cãi. Giáo viên thường truyền thụ kiến thức về từ nhiều nghĩatừ đồng âm một cách máy móc, rập khuôn và sơ sài, kiến thức chỉ bó hẹp trong phạm vi sách giáo khoa, thực sự nhiều giáo viên chưa hiểu một cách thấu đáo, chưa phân biệt được trong từng trường hợp cụ thể. Giáo viên hướng dẫn học sinh giải quyết một số bài tập về từ đồng âmtừ nhiều nghĩa chưa thuyết phục, chưa hiểu được bản chất của nó. 

Khi thể hiện tiết dạy hầu như giáo viên chỉ chú ý đến đối tượng học sinh có khả năng tiếp thu tốt, còn lại đa số học sinh khác thụ động ngồi nghe, học sinh làm việc tẻ nhạt, thiếu hứng thú, chưa tạo được hiệu quả cho giờ học .

 Đứng trước thực trạng trên và bằng kinh nghiệm của bản thân đã đúc kết được qua nhiều năm dạy lớp 5, tôi mạnh dạn đưa ra: “ Một số kinh nghiệm chỉ đạo dạy học giúp học sinh lớp 5 phân bịêt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa” nhằm giúp học sinh tháo gỡ những lầm lẫn giữa từ đồng âm và từ nhiều nghĩa.

  1. 2. Thực trạng việc dạy – học về từ đồng âm và từ nhiều nghĩa trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.

2.1. Thực trạng việc dạy của giáo viên:

Qua kinh nghiệm thực tế giảng dạy, qua dự giờ và trao đổi với đồng nghiệp chúng tôi nhận thấy:

Khi dạy học Tiếng Việt ở lớp 5, việc giúp học sinh phân biệt từ đồng âmtừ nhiều nghĩa thường gặp nhiều khó khăn, bởi phần kiến thức đưa vào trong chương trình chỉ ở mức độ đơn giản. Phần nghĩa của từ mới dừng ở khái niệm, thông qua các bài tập thực hành giúp học sinh hiểu và khắc sâu kiến thức. Chương trình chưa chỉ ra những điểm giống và khác nhau cơ bản giữa từ đồng âmtừ nhiều nghĩa. Do vậy không chỉ học sinh mà cả giáo viên cũng cảm thấy lúng túng, nhầm lẫn trong các trường hợp phức tạp. Chính vì thế, cũng gây không ít tranh cãi trong giáo viên. Nhiều giáo viên còn né tránh những bài tập phức tạp. Hơn nữa, phần kiến thức từ đồng âmtừ nhiều nghĩa đưa vào chương trình lớp 5 với thời lượng ít, bài luyện tập không nhiều nên phần lớn giáo viên chưa thực sự chú trọng, kiến thức còn thiếu chắc chắn, chưa có sự đầu tư thích đáng nên hiệu quả giờ dạy chưa cao.

2.2. Thực trạng việc học của học sinh:

Từ đồng âm được dạy trong 1 tiết ở tuần 5 chương trình Tiếng Việt lớp 5, các em được học khái niềm về từ đồng âm. Các bài tập về từ đồng âm chủ yếu giúp học sinh phân biệt nghĩa các từ đồng âm, đặt câu trong đó có các từ đồng âm. Bài  luyện tập về từ đồng âm đã được giảm tải, vì thế thời lượng trong chương trình dành cho phần kiến thức này còn ít.

Từ nhiều nghĩa được dạy trong 3 tiết ở tuần 7 và tuần 8. Học sinh được học khái niệm về từ nhiều nghĩa. Các bài tập chủ yếu là phân biệt các từ mang nghĩa gốc và nghĩa chuyển, đặt câu phân biệt nghĩa, nêu các nét nghĩa khác nhau của một từ. 

Dạng bài tập về phân biệt từ đồng âm, từ nhiều nghĩa không có trong khi đó khả năng tư duy trừu tượng của các em còn hạn chế. Chính vì thế, khi học sinh làm bài tập về phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa, học sinh còn mơ hồ, định tính, phần lớn học sinh chưa hiểu được bản chất về sự khác nhau cơ bản của từ đồng âmtừ nhiều nghĩa.

  1. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.

3.1. Tìm hiểu nguyên nhân học sinh thường gặp khó khăn khi phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa.

3.1.1. Nguyên nhân thứ nhất:

Từ đồng âm và từ nhiều nghĩa đều có đặc điểm và hình thức giống nhau, đọc giống nhau, viết cũng giống nhau, chỉ khác nhau về ý nghĩa. Khi dạy học giáo viên chưa giúp học sinh tìm ra điểm khác nhau cơ bản giữa từ đồng âm và từ nhiều nghĩa.

Ví dụ 1: Từ đồng âm “bàn”(1) trong “cái bàn” và “bàn” trong “bàn công việc” xét về hình thức ngữ âm thì hoàn toàn giống nhau còn nghĩa thì hoàn toàn khác nhau.

–  “bàn” (1) là danh từ chỉ một đồ vật có mặt phẳng, chân đứng để đồ đạc hoặc làm việc, “bàn” (2) là động từ chỉ sự trao đổi ý kiến.

    Ví dụ 2: Từ nhiều nghĩa: “bàn”(1) trong “cái bàn” và “bàn”(2) trong “bàn phím”. 

Hai từ “bàn” này, về hình thức ngữ âm hoàn toàn giống nhau còn nghĩa thì “bàn” (1) chỉ một đồ vật có mặt phẳng, có chân dùng để đi kèm với ghế làm đồ nội thất; “bàn”(2) là bộ phận tập hợp các phím trong một số loại đàn hoặc máy tính. 

bàn” trong “cái bàn” mang nghĩa gốc còn “bàn” trong “bàn phím” mang nghĩa chuyển.

3.1.2. Nguyên nhân thứ hai: 

Học sinh còn chưa phân biệt nghĩa gốc và nghĩa chuyển của từ nhiều nghĩa.      

3.1.3. Nguyên nhân thứ ba:

Trong chương trình Tiếng Việt 5, nội dung phần dạy về nghĩa của từ chưa có dạng bài tập phối hợp cả hai kiến thức về từ đồng âm và từ nhiều nghĩa để học sinh rèn kĩ năng phân biệt. 

3.2. Giúp học sinh nắm vững khái niệm và sự khác nhau cơ bản giữa từ đồng âm và từ nhiều nghĩa. 

3.2.1. Từ đồng âm. 

3.2.1.1. Khái niệm: Từ đồng âm Là những từ giống nhau về âm nhưng khác hẳn nhau về nghĩa (theo SGK TV5 – tập 1 – trang 51)

3.2.1.2. Nguồn gốc: 

Đại bộ phận các từ đồng âm không được giải thích về nguồn gốc, nhưng có một số từ, nhóm từ người ta có thể phát hiện ra con đường hình thành nên chúng.

* Những nhóm đồng âm không tìm được lí do hình thành chủ yếu gồm các từ bản ngữ.

Ví dụ: 

bay (cái bay) (Danh từ) – bay(chim bay) (Động từ);

– rắn (chất rắn) (Tính từ) – rắn (con rắn) (Danh từ); 

đá (hòn đá) (Danh từ) – đá (đá bóng) (Động từ);  

Đây chính là nhóm từ đồng âm ngẫu nhiên thường gặp, dạng này học sinh dễ nhận biết.

* Nhóm từ đồng âm do tiếp thu, vay mượn các từ của ngôn ngữ khác:  Từ được vay mượn có thể đồng âm với từ của bản ngữ và chúng tạo nên nhóm đồng âm; hoặc cũng có khi hai, ba từ được vay mượn từ những ngôn ngữ khác nhau và đồng âm với nhau.

Ví dụ: 

– Trong tiếng Việt: sút1 (giảm sút: gốc Việt) – sút2 (sút bóng: gốc Anh)

* Nhóm từ đồng âm do sự tách biệt nghĩa của từ nhiều nghĩa, một nghĩa nào đó bứt ra khỏi cơ cấu nghĩa chung và hình thành một từ mới đồng âm với chính từ ban đầu. Ở đây, thực ra đã có sự đứt đoạn trong chuỗi liên hệ về nghĩa để dẫn đến những cặp từ đồng âm.

Ví dụ: Trong tiếng Việt: quà1 (món ăn ngoài bữa chính) – quà2 (vật tặng cho người khác)

* Từ đồng âm hình thành do nhiều cơ chế: do trùng hợp ngẫu nhiên ( gió bay, bọn bay, cái bay); do từ vay mượn trùng với từ có sẳn( đầm sen, bà đầm; la mắng, nốt la); do từ rút gọn trùng với từ có sẵn (hụt mất hai ly, cái ly; hai , chữ ;…)

3.2.1.4. Phân loại các từ đồng âm dựa vào yếu tố từ loại.

* Từ đồng âm thuộc cùng một từ loại.

Ví dụ:

+ Cùng từ loại danh từ: 

– đường (đắp đường) – đường (đường phèn).

– đường kính (một loại đường để ăn) – đường kính (dây cung lớn nhất của đường tròn).

Ví dụ:  

+ Cùng từ loại động từ: 

– cất (cất vó) – cất (cất tiền vào tủ) – cất (cất hàng) – cất (cất rượu)

* Từ đồng âm khác nhau về từ loại.

Ví dụ:  

– chỉ (danh từ ) trong “cuộn chỉ” – chỉ (động từ) trong “chỉ tay” 

Loại từ đồng âm này chiếm số nhiều  trong Tiếng Việt.

* Nhóm từ đồng âm do chuyển hóa từ loại của từ.

Ví dụ:     

– “cuốc” (danh từ) trong “cái cuốc”; “cuốc” (động từ) trong “cuốc đất

“cưa” (danh từ) trong “cái cưa” ; “cưa” (động từ) trong “cưa khúc gỗ”

“thịt ” (danh từ) trong“ miếng thịt”; “thịt”(động từ) trong “thịt con gà”

– “chèo”(danh từ) trong “mái chèo” ; “chèo“(động từ) trong“chèo thuyền”

Trong nội dung các bài tập của sách giáo khoa, chưa có bài tập nào đề cập đến nhóm từ đồng âm này, nên khi gặp trường hợp này học sinh thường gặp lúng túng. Đây là hiện tượng chuyển hóa từ loại của từ, nghĩa của mỗi từ hoàn toàn khác nhau – đó là hiện tượng đồng âm.

3.2.2. Từ nhiều nghĩa:

3.2.2.1. Khái niệm: Từ nhiều nghĩa là từ có một nghĩa gốc và một hay một số nghĩa chuyển. Các nghĩa của từ nhiều nghĩa bao giờ cũng có mối liên hệ với nhau. (SGK Tiếng Việt 5 Tập 1 – trang 67)

Nghĩa gốc là nghĩa chính của từ. Nghĩa chuyển là nghĩa được suy ra từ nghĩa gốc.

Ví dụ :

– Đôi mắt của bé mở to. (từ mắt chỉ bộ phận quan sát của con người mọc ở trên mặt- được dùng với nghĩa gốc.)

– Quả na mở mắt. (nghĩa của từ “mắt” trong trường hợp này được phát triển dựa vào sự giống nhau về hình dáng –  là nghĩa chuyển.)

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

5
LỊCH SỬ & ĐỊA LÍ
4.5/5
TÀI LIỆU WORD

200.000 

5
LỊCH SỬ & ĐỊA LÍ
4.5/5
TÀI LIỆU WORD

200.000 

Lớp 5
Đạo đức
4.5/5
TÀI LIỆU WORD

200.000 

Lớp 5
Tiếng Việt
4.5/5
TÀI LIỆU WORD

200.000 

Theo dõi
Thông báo của
guest
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
Set your categories menu in Theme Settings -> Header -> Menu -> Mobile menu (categories)
Shopping cart

KẾT NỐI NGAY VỚI KIẾN EDU

Chúng tôi luôn sẵn sàng lắng nghe và đưa ra giải pháp phù hợp nhất cho vấn đề của bạn.

0886945229

Email

kienedu.com@gmail.com

Đây chỉ là bản XEM THỬ - khách hàng vui lòng chọn mua tài liệu và thanh toán để nhận bản đầy đủ

TẢI TÀI LIỆU

Bước 1: Chuyển phí tải tài liệu vào số tài khoản sau với nội dung: Mã tài liệu

Chủ TK: Ngô Thị Mai Lan

STK Agribank: 2904281013397 Copy
* (Nếu khách hàng sử dụng ngân hàng Agribank thì chuyển tiền vào STK Agribank để tránh bị lỗi treo giao dịch)
STK TPbank: 23665416789 Copy
tài khoản tpbank kienedu

Bước 2: Gửi ảnh chụp giao dịch vào Zalo kèm mã tài liệu để nhận tài liệu qua Zalo hoặc email

Nhắn tin tới Zalo Kiến Edu (nhấn vào đây để xác nhận và nhận tài liệu!)