SKKN Một số kinh nghiệm trong công tác chủ nhiệm lớp

Giá:
50.000 đ
Môn: Chủ nhiệm
Lớp: 7
Bộ sách:
Lượt xem: 579
Lượt tải: 7
Số trang: 32
Tác giả: Nguyễn Thị Lan
Trình độ chuyên môn: Cử nhân đại học
Đơn vị công tác: tiểu học Thị Trấn Nga Sơn
Năm viết: 2020-2021
Số trang: 32
Tác giả: Nguyễn Thị Lan
Trình độ chuyên môn: Cử nhân đại học
Đơn vị công tác: tiểu học Thị Trấn Nga Sơn
Năm viết: 2020-2021

Sáng kiến kinh nghiệm SKKN Một số kinh nghiệm trong công tác chủ nhiệm lớp triển khai gồm các biện pháp nổi bật sau:

– Xây dựng hình tượng, rèn luyện nhân cách của giáo viên
– Tạo niềm tin đối với học sinh
– Tiếp cận và tìm hiểu hoàn cảnh
– Xây dựng kế hoạch chủ nhiệm lớp
– Tổ chức bộ máy quản lý chặt chẽ, có khoa học
– Biết lắng nghe học sinh (là một nhà tư vấn tâm lý)
– Dự giờ thăm lớp, tiếp xúc giáo viên bộ môn
– Giáo dục học sinh cá biệt
– Tổ chức tốt giờ sinh hoạt lớp
– Tổ chức mô hình “Đôi bạn cùng tiến”
– Tổ chức đối thoại trực tiếp
– Phối hợp chặt chẽ với PHHS
– Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh
– Phối hợp với các lực lượng giáo dục khác
– Xây dựng các tiêu chí thi đua Hồ sơ, sổ sách
– Một số giải pháp khác (tính mới trong công tác chủ nhiệm lớp)

Mô tả sản phẩm

ĐỀ TÀI
MỘT SỐ KINH NGHIỆM TRONG CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM LỚP.

A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài
Trãi qua hơn mười ba năm công tác trong ngành giáo dục, bản thân tôi từng ngày từng giờ được trau dồi hơn về chuyên môn nghiệp vụ, cũng như công tác chủ nhiệm thông qua quá trình học hỏi đồng nghiệp, tự nổ lực của bản thân.
Từng ấy năm công tác, cũng là từng ấy năm tôi vinh dự được Ban giám hiệu nhà trường tin tưởng giao cho công tác chủ nhiệm lớp, từ lớp 6 đến lớp 9. Những trăn trở, băn khoăn luôn hiện hữu trong tâm trí, hành động của tôi, là phải đưa ra những biện pháp, cụ thể hóa bằng việc làm, áp dụng làm sao cho phù hợp với từng đối tượng học sinh để làm cho lớp chủ nhiệm của mình ngày càng đi lên về mọi mặt học tập, rèn luyện, hoạt động phong trào. Nghĩ là nghĩ như thế, quyết tâm là quyết tâm như thế, nhưng khi bắt tay vào công việc thì thật là không đơn giản chút nào. Đặc biệt hơn là trong giai đoạn hiện nay, công cuộc đổi mới đất nước đòi hỏi phải có nguồn nhân lực có trình độ tri thức và phẩm chất đạo đức ngày càng cao. Đây là trách nhiệm hết sức to lớn đối với ngành giáo dục, và một phần công sức không nhỏ của đội ngũ nhà giáo làm công tác GVCN lớp. Đồng thời, các tệ nạn xã hội, những thói hư tật xấu ngày càng len lỏi sâu hơn vào các tầng lớp thanh thiếu niên, trong đó đối tượng chịu tác động nhiều chính là các em học sinh. Bên cạnh đó, sự thiếu quan tâm của gia đình đối với các em là một trong những nguyên nhân chính đưa các em đến với các tệ nạn xã hội, lười biếng trong học tập, suy thoái về đạo đức, lối sống… Những khó khăn, vất vả trên chính là những thách thức vô cùng to lớn đã và đang đặt ra đối với vai trò của người GVCN lớp hiện nay.
Cảm nhận được những khó khăn ấy, bản thân tôi đã mạnh dạn đưa ra những kinh nghiệm mà mình đã được trải qua, học hỏi, trau dồi thông qua đề tài “Một số kinh nghiệm trong công tác chủ nhiệm lớp”. Mặc dù vẫn biết, đây là chủ đề không còn xa lạ đối với đội ngũ mỗi thầy cô giáo.
II. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
1. Mục tiêu của đề tài
Nâng cao hiệu quả của công tác chủ nhiệm lớp nhằm nâng cao chất lượng dạy và học ở Trường THCS Phan Bội Châu.
2. Nhiệm vụ của đề tài
Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn về vai trò của GVCN lớp, tâm lí lứa tuổi học sinh THCS, từ đó áp dụng các biện pháp, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác chủ nhiệm.
III. Đối tượng nghiên cứu
Một số kinh nghiệm trong công tác chủ chủ nhiệm lớp được áp dụng trong nhà trường THCS.
IV. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Công tác chủ nhiệm tại lớp 7A2 và công tác chủ nhiệm tại một số lớp thuộc trường THCS Phan Bội Châu, huyện Krông Búk, tỉnh Đăk Lăk.
V. Phương pháp nghiên cứu
1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến nội dung đề tài, dựa trên cơ sở lí luận về vai trò của người GVCN lớp, tâm lí lứa tuổi học sinh THCS được thu thập từ những thông tin trên các trang web…
2. Phương pháp điều tra cơ bản
– Điều tra thực trạng công tác chủ nhiệm tại trường THCS Phan Bội Châu, nơi tôi đang công tác.
– Tham khảo kinh nghiệm của một số đồng nghiệp.
– Theo dõi diễn biến tâm sinh lí của các em học sinh trong suốt thời gian gần một năm học.
3. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
Dựa vào theo dõi trong quá trình giảng dạy, chủ nhiệm trong thời gian gần 10 năm qua, học hỏi kinh nghiệm của đồng nghiệp để đưa ra những biện pháp, giải pháp nhằm áp dụng sao cho phù hợp nhất.
B. PHẦN NỘI DUNG
I. Cơ sở lý luận
1. Vai trò của người GVCN lớp
Đối với giáo dục phổ thông, người GVCN lớp có vai trò quan trọng trong việc giáo dục học sinh. Ngoài việc trực tiếp giảng dạy ở lớp chủ nhiệm, GVCN trước hết phải là nhà giáo dục, là người tổ chức các hoạt động giáo dục, quan tâm tới từng học sinh, chăm lo đến việc rèn luyện đạo đức, hành vi, những biến động về tư tưởng, nhu cầu, nguyện vọng của các em. GVCN lớp bằng chính nhân cách của mình, là tấm gương tác động tích cực đến việc hình thành các phẩm chất đạo đức, nhân cách của học sinh. Mặt khác, GVCN còn là cầu nối giữa tập thể học sinh với các tổ chức xã hội trong và ngoài nhà trường, là người tổ chức phối hợp các lực lượng giáo dục,… Có thể nói vai trò xã hội của người GVCN trở nên lớn hơn nhiều so với chức năng của người giảng dạy bộ môn.
GVCN là người thay mặt hiệu trưởng, hội đồng nhà trường và cha mẹ học sinh quản lý toàn diện học sinh lớp mình phụ trách. Điều này đòi hỏi GVCN vừa quản lý tập thể học sinh, vừa quan tâm đến từng cá nhân trong lớp về mọi phương diện: học tập, tu dưỡng, lao động và sinh hoạt tập thể.
GVCN lớp là người lãnh đạo, tổ chức, điều hành, kiểm tra mọi hoạt động và các mối quan hệ ứng xử thuộc lớp mình phụ trách theo đúng chương trình và kế hoạch của nhà trường.
GVCN là nhân vật chủ đạo để hình thành nhân cách cho từng học sinh trong tập thể lớp.
GVCN lớp là cầu nối, là nhân vật trung gian thiết lập các mối quan hệ hai chiều: nhà trường – tập thể học sinh, tập thể học sinh – xã hội. Như vậy, một mặt GVCN lớp vừa là đại diện cho nhà trường để giáo dục học sinh, vừa đại diện cho tập thể học sinh để liên lạc với nhà trường. Mặt khác, GVCN lớp phải làm cho quan hệ giữa tập thể học sinh với xã hội trở nên gắn bó hơn.
GVCN xây dựng, tổ chức tập thể lớp mình thành đơn vị vững mạnh, tổ chức điều khiển, lãnh đạo các hoạt động giáo dục của tập thể lớp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.
GVCN luôn thiết lập và phát triển các mối quan hệ với các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường để giáo dục học sinh.
2. Các đặc điểm tâm sinh lý cơ bản ở học sinh THCS
Học sinh THCS có tuổi đời ứng với tuổi thiếu niên, do vậy các em còn có tên gọi khác là thiếu niên. Cách đây khoảng 20 năm, theo kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học, học sinh đầu bậc THCS, về phát triển cơ thể không có gì khác so với trẻ cuối bậc Tiểu học; Các em chỉ “lớn vọt” lên ở các năm tiếp theo. Nhưng đến thời điểm hiện nay, quy luật trên không còn tồn tại trong số đông trẻ em Việt Nam cả ở thành phố lẫn nông thôn, bởi lẽ, tuổi dậy thì của các em đã được “kéo xuống” ở đầu bậc THCS (em trai thường chậm hơn em gái 2 năm). Với hiện tượng dậy thì – một hiện tượng sinh lí trong phát triển, nhưng do liên quan đến biến đổi nội tiết nên cũng dễ dẫn đến các rối loạn, biến đổi “giao thời” trong đời sống tâm sinh lí của các em. Đối với tuổi thiếu niên, có một số các rối loạn tâm lý mang tính chất đặc trưng. Nếu như có rối loạn phát triển tâm lý từ trước, thì đến tuổi thiếu niên, chúng cũng sẽ có những biến đổi nhất định. Tuổi thiếu niên ở trong khoảng từ 11- 14 tuổi (2 năm). Đây là thời gian xảy ra rất nhiều các biến đổi ở các mức độ khác nhau trong cơ thể trẻ; sự hình thành nhân cách được hoàn thiện. Ở góc độ nội tiết, sự hoạt hóa của tuyến yên, của các tuyến sinh dục, của tuyến thượng thận được tăng cường, dẫn đến sự tăng trưởng mạnh về chiều cao, trọng lượng cơ thể, các dấu hiệu sinh dục phụ xuất hiện. Tuy nhiên, người lớn (cha mẹ, thầy, cô giáo, người nuôi dưỡng trẻ) phải ý thức rằng, những phát triển trong cơ thể trẻ lúc này diễn ra chưa đồng bộ và với diện mạo “to cao” bên ngoài như vậy, các em vẫn chưa là người lớn thực thụ về tất cả các chức năng trong cơ thể. Về trí tuệ, ở giai đoạn lứa tuổi này, tiếp tục diễn ra sự phát triển của trí nhớ, đặc biệt trí nhớ ý nghĩa, chú ý có chủ định, và vận động, tư duy lôgic và trừu tượng cũng phát triển mạnh. Trẻ – thiếu niên hoàn toàn có khả năng tiếp thu các khái niệm Toán học, Vật lý học và Triết học trừu tượng.
Mặt khác, sự thay đổi trong lĩnh vực động cơ của nhân cách cũng diễn ra cùng với động cơ học tập, nhu cầu trong giao tiếp bạn bè, việc lĩnh hội các chuẩn mực và giá trị môi trường của thiếu niên cũng bắt đầu diễn ra. Trong quan hệ với cha mẹ, xuất hiện các dấu hiệu từ phản ứng, muốn thoát khỏi sự áp đặt quan điểm của người lớn về các vấn đề khác nhau đến việc bỏ trốn khỏi nhà. Liên quan tới việc hình thành tính tích cực nhân cách trong giai đoạn này là việc đẩy nhanh tính chất mạnh mẽ trong hình thành các đặc điểm nhân cách ở trẻ. Chính sự đẩy nhanh tốc độ cả về cơ thể lẫn nhân cách là bước chuyển từ trạng thái trẻ em sang người lớn. Sự phụ thuộc vào cha mẹ và người lớn dần phải được thay thế định hướng cho trẻ hướng tới tương lai của chính bản thân nó. Sự chuyển dịch này đưa ra yêu cầu khá cao không chỉ đối với hệ thần kinh trung ương, mà cả hệ thống giá trị, chuẩn mực, niềm tin vốn đã được hình thành trước đó ở trẻ.
Với những trẻ thiểu năng trí tuệ mức nhẹ, vào tuổi thiếu niên, việc định hướng cuộc sống, các kỹ năng tự phục vụ và lao động được cải thiện. Tuy nhiên, một số chức năng vào lúc này cũng không thể được bù trừ, chẳng hạn như thoát khỏi ức chế tình dục, xâm kích hay thích tham gia vào các nhóm thiếu niên lịch lãm với tư cách là thành viên. Với trẻ phát triển theo kiểu nhi tính, chậm phát triển tâm lý có thể được bù trừ, nhưng nhân cách, cũng như động cơ vẫn không thoát khỏi nhi tính. Còn với trẻ thiếu niên, nhi tính do căn nguyên tâm sinh lý thì chậm phát triển tốc độ chín muồi sinh dục vẫn diễn ra. Ở các thiếu niên có tổn thương thực thể hệ thần kinh trung ương các rối loạn trí tuệ có thể được phục hồi tương đối, nhưng hiện tượng mệt mỏi và rối loạn hành vi lại tăng cường. Nếu trẻ bị động kinh từ nhỏ, và không được điều trị kịp thời, thì vào tuổi thiếu niên, các khiếm khuyết trí tuệ, sự thay đổi nhân cách, biểu hiện sự dữ tợn, càng tăng hơn.
Do vậy, ở tuổi thiếu niên, cơ chế bù trừ chức năng thường hình thành chưa đầy đủ, nên dễ dẫn đến các hành vi lệch lạc. Song nếu được quan tâm đầy đủ và được giáo dục tế nhị thì mọi lệch lạc đều có thể được điều chỉnh và đứa trẻ hoàn toàn có cơ hội phát triển bình thường ở những giai đoạn phát triển tiếp theo.
II. Thực trạng
1. Thực trạng chung
Trong những năm gần đây, sự phát triển kinh tế – xã hội đã mang lại không ít những thuận lợi cho công tác chủ nhiệm trong nhà trường. Sự quan tâm đầu tư của Đảng, nhà nước cùng với sự hỗ trợ tích cực từ phía xã hội. Cơ sở vật chất, trang thiết bị giáo dục của nhà trường ngày một khang trang, đầy đủ, đảm bảo cho việc dạy và học. Mô hình ít con, kinh tế ngày càng được cải thiện đã tạo thuận lợi cho trẻ em được quan tâm và chăm sóc tốt hơn. Bên cạnh đó, sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin đã hỗ trợ cho giáo viên và phụ huynh trong việc liên lạc, trao đổi, nắm bắt nhanh những thông tin cần thiết trong phối hợp giáo dục; đồng thời hỗ trợ tích cực cho hoạt động dạy của giáo viên trong những giờ lên lớp, trong những hoạt động tập thể khiến học sinh thấy hứng thú hơn. Sự phối kết hợp giữa các tổ chức đoàn thể trong và ngoài nhà trường ngày càng trở nên chặt chẽ.
Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi kể trên, công tác chủ nhiệm lớp còn gặp không ít những khó khăn, thách thức. Trong thời đại khoa học công nghệ và kinh tế thị trường hiện nay, ngoài những tiện ích to lớn mà nó mang đến cho nhân loại thì kèm theo đó là hàng loạt các tác động tiêu cực đến đối tượng học sinh: xu hướng đua đòi chưng diện theo trang phục, mái tóc của các ca sĩ, diễn viên trong phim ảnh không lành mạnh và đặc biệt là game online. Chính những vấn đề này ảnh hưởng không ít đến việc học tập, việc hình thành nhân cách, đạo đức của học sinh và gây ra rất nhiều khó khăn cho GVCN trong công tác giáo dục đạo đức học sinh.
Nguyên nhân chủ yếu là do nhiều cơ sở kinh doanh chỉ chú ý đến lợi nhuận. Hầu hết các điểm truy cập Internet đều trang bị những trò chơi bạo lực thu hút học sinh. Vì thế, hiện tượng trốn tiết, giấu tiền để chơi game là điều không tránh khỏi. Không những thế, hậu quả do những tác động của những trò chơi nguy hiểm này dẫn đến các hành vi bạo lực khôn lường.
Mặt khác, nhiều gia đình do quá bận rộn với công việc nên thời gian dành cho việc giáo dục con cái không nhiều, gần như phó mặc cho nhà trường và xã hội, thậm chí cung cấp tiền bạc dư thừa không nghĩ đến hậu quả. Nhiều phụ huynh chỉ gặp gỡ trao đổi với GVCN trong 3 buổi họp phụ huynh trong một năm học. còn chủ yếu là trao đổi qua điện thoại trong những trường hợp cần thiết. Trẻ thiếu thốn tình cảm, thiếu sự quan tâm của gia đình, dễ bị kẻ xấu lôi cuốn sa ngã. Một số em do được chiều chuộng và chăm sóc quá chu đáo nên nảy sinh tính ích kỉ, ương bướng, khó bảo.
Hơn nữa, công tác chủ nhiệm chủ yếu là kiêm nhiệm, thực tế hiện nay chưa có một khoá đào tạo chính thức nào cho GVCN. Chính vì vậy, không nhiều GVCN thực sự có năng lực, làm chủ nhiệm chủ yếu bằng kinh nghiệm của bản thân, cộng với trao đổi học hỏi trong nhà trường. Bên cạnh đó, số tiết dành cho GVCN còn quá ít, chỉ 4 tiết trên tuần, chưa tương xứng công sức giáo viên đầu tư vào công tác chủ nhiệm, dẫn đến nhiều giáo viên chưa hăng say với công tác chủ nhiệm. Nội dung chương trình giảng dạy còn nặng về kiến thức thuần tuý, số tiết giành cho giáo dục công dân, giáo dục đạo đức học sinh còn quá ít, trong khi xã hội ngày càng phát triển. Hơn nữa ở lứa tuổi này, tâm sinh lí của các em đang phát triển mạnh, các em ngày càng có nhiều nhu cầu hiểu biết, tìm tòi, bắt chước, thích giao lưu, đua đòi, thích sự khẳng định mình…, trong khi kiến thức về xã hội, gia đình, sự hiểu biết về pháp luật còn hạn chế, nên chiều hướng học sinh hư, lười học, hiện tượng bỏ giờ, trốn tiết, vi phạm pháp luật, vi phạm đạo đức ngày càng nhiều.
Tuy nhiên, cũng phải nhìn nhận những thiếu sót về phía đội ngũ GVCN. Một bộ phận giáo viên chưa thật nhiệt tình, một phần do công việc giảng dạy chiếm nhiều thời gian, hiệu quả công tác chủ nhiệm ít nhiều bị ảnh hưởng. Một thiếu sót khác là nhiều GVCN tiến hành công việc khá cảm tính, chưa có phương pháp chủ nhiệm sáng tạo thích hợp. Có người quá nghiêm khắc, có người quá dễ dãi. Người nghiêm khắc gò ép học sinh theo khuôn khổ một cách máy móc. Và như thế, về mặt tâm lí, cả giáo viên và học sinh đều như bị áp lực. Người dễ dãi thì lại buông lỏng công tác quản lí, thiếu quan tâm sâu sát. Thực tế, nhiều khi giữa thầy cô chủ nhiệm và học sinh không phải bao giờ cũng tìm được tiếng nói chung.
2. Thực trạng nghiên cứu:
Năm học 2018 – 2019, tôi được Ban giám hiệu nhà trường phân công phụ trách công tác chủ nhiệm lớp 7A2. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, bản thân tôi có một số nhận xét như sau:
2.1. Thuận lợi – khó khăn
a. Thuận lợi
– Được sự quan tâm về mọi mặt của Phòng GD & ĐT huyện Krông Búk cũng như sự lãnh chỉ đạo trực tiếp của Chi bộ, BGH nhà trường, các cấp… đã động viên tinh thần dạy – học, cũng như rèn luyện của tập thể thầy cô và các em học sinh.
– 100% các em học sinh trong lớp là dân tộc Kinh nên khả năng tiếp thu kiến thức, nhận thức có thể sẽ thuận lợi hơn.
– Hầu hết các em đang sinh sống cùng gia đình tại địa phương, gần gũi với cha mẹ, người thân nên sẽ được quản lí chặt chẽ hơn.
– Bản thân tôi cũng có một ít kinh nghiệm trong hơn 13 năm làm công tác giảng dạy…
– Đa số học sinh ngoan hiền, chú ý đến việc học tập, biết sửa đổi khi phạm sai lầm, chấp hành tốt nội quy trường, lớp.
b. Khó khăn

0/5 (0 Reviews)
0/5 (0 Reviews)

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

skkn Phát triển tư duy phản biện cho học sinh thpt thông qua giờ sinh hoạt lớp
10;11;12
Chủ nhiệm
4.5/5

100.000 

Theo dõi
Thông báo của
guest
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
Set your categories menu in Theme Settings -> Header -> Menu -> Mobile menu (categories)
Shopping cart

KẾT NỐI NGAY VỚI KIẾN EDU

Chúng tôi luôn sẵn sàng lắng nghe và đưa ra giải pháp phù hợp nhất cho vấn đề của bạn.

0886945229

Email

kienedu.com@gmail.com

Đây chỉ là bản XEM THỬ - khách hàng vui lòng chọn mua tài liệu và thanh toán để nhận bản đầy đủ

TẢI TÀI LIỆU

Bước 1: Chuyển phí tải tài liệu vào số tài khoản sau với nội dung: Mã tài liệu

Chủ TK: Ngô Thị Mai Lan

STK Agribank: 2904281013397 Copy
* (Nếu khách hàng sử dụng ngân hàng Agribank thì chuyển tiền vào STK Agribank để tránh bị lỗi treo giao dịch)
STK TPbank: 23665416789 Copy
tài khoản tpbank kienedu

Bước 2: Gửi ảnh chụp giao dịch vào Zalo kèm mã tài liệu để nhận tài liệu qua Zalo hoặc email

Nhắn tin tới Zalo Kiến Edu (nhấn vào đây để xác nhận và nhận tài liệu!)