SKKN Một số kinh nghiệm xây dựng môi trường giáo dục thân thiện cho tập thể lớp có đông học sinh nữ ’

Giá:
100.000 đ
Cấp học: THPT
Môn: Chủ nhiệm
Lớp:
Bộ sách:
Lượt xem: 1268
File:
TÀI LIỆU WORD
Số trang:
65
Lượt tải:
9

Sáng kiến kinh nghiệm SKKN Một số kinh nghiệm xây dựng môi trường giáo dục thân thiện cho tập thể lớp có đông học sinh nữ ’ triển khai gồm các biện pháp nổi bật sau:

1. Nhóm KN 1: Công tác quản lý lớp
1.1. Tìm hiểu, phân loại học sinh trong lớp học
1.2. Xây dựng tập thể học sinh lớp chủ nhiệm ở tập thể có đông học sinh nữ
1.3 Tổ chức huấn luyện đội ngũ cán bộ lớp để xác định trách nhiệm xây dựng
môi trường giáo dục thân thiện cho tập thể lớp có đông học sinh nữ
1.4.Lập kế hoạch giáo dục hàng tuần.
1.5. Lập kế hoạch công tác chủ nhiệm lớp
1.6. Giáo dục đạo đức, pháp luật và nhân văn cho học sinh
2. Nhóm kinh nghiệm 2 : Đổi mới sinh hoạt lớp , tăng cường giáo dục giới tính, giá trị sống, kĩ năng sống cho học sinh
3. Nhóm KN 3: Công tác CN với việc cảm hóa HS chưa tích cực
4. Nhóm KN 4: Triển khai các CLB theo sở thích, năng khiếu của HS
5. Nhóm KN 5: Tăng cường giáo dục kĩ năng, tạo môi trường GD thân thiện, thông qua các HĐ trải nghiệm, ngoài giờ lên lớp, hướng nghiệp, nghiên cứu khoa học, làm dự án học tập,…
6. Nhóm KN 6 : Nâng cao CL học tập

 

Mô tả sản phẩm

PHẦN MỘT: ĐẶT VẤN ĐỀ
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Cuộc sống đang biến động và đổi thay từng ngày, trong thời đại mới, cùng với sự phát triển kinh tế xã hội, hội nhập quốc tế mở rộng đã tạo nhiều cơ hội lớn về mọi mặt đồng thời cũng tạo ra nhiều thách thức trong giáo dục thế hệ trẻ. Bởi vậy nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ 13 đã xác định “ Chú trọng giáo dục phẩm chất, năng lực sáng tạo và các giá trị cốt lõi ” cho con người, phải chuyển nhanh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học, tổ chức các hình thức học tập đa dạng, kết hợp lực lượng giáo dục để từ đó thế hệ trẻ được phát triển một cách hài hòa nhất.
Với yêu cầu cụ thể như thế, đòi hỏi các thầy cô giáo – các nhà giáo dục phải có một phương pháp giáo dục nhất quán linh hoạt, nghĩa là phải xây dựng một môi trường giáo dục phù hợp với mỗi cá nhân. Trong nhà trường phổ thông hiện nay, do những điều kiện khách quan và chủ quan, mỗi lớp học sẽ có một đặc thù riêng, đặc biệt với những lớp học có đông học sinh nữ, đòi hỏi giáo viên chủ nhiệm phải xây dựng một môi trường phù hợp để mỗi học sinh có thể phát triển hết các thế mạnh của mình. Đây là một thách thức thú vị, đòi hỏi giáo viên chủ nhiệm phải hết sức linh hoạt, sáng tạo trong việc định hướng phát triển cho tập thể mình phụ trách.
Trong nhiều năm công tác ở trường THPT Hà Huy Tập được, phân công làm chủ nhiệm của một số lớp có đông học sinh nữ ( 12Q khóa 28, 12C khóa 31, 12D2 khoá 41, 12D2 khoá 44 ), chúng tôi luôn quan tâm đến việc xây dựng môi trường giáo dục thân thiện cho tập thể lớp mình phụ trách. Xuất phát từ thực tiễn quan trong và tầm quan trọng của môi trường giáo dục trong việc hình thành nhân cách học sinh, chúng tôi đã lựa chọn đề tài “ Một số kinh nghiệm xây dựng môi trường giáo dục thân thiện cho tập thể lớp có đông học sinh nữ ’’ để nghiên cứu và chia sẻ kinh nghiệm. Qua đề tài chúng tôi muốn đóng góp một phần nhỏ bé của mình giúp cho các tập thể lớp có đông học sinh nữ của trường THPT Hà Huy Tập nói riêng và các trường bạn có một môi trường học tập tốt để các học sinh phát triển toàn diện, phát huy được năng lực bản thân một cách phù hợp với bối cảnh xã hội ngày càng phát triển như hiện nay.
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và thực tiễn, thực trạng của đề tài, chúng tôi đề xuất một số giải pháp nhằm xây dựng môi trường giáo dục cho tập thể lớp có đông học sinh nữ.
III. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Tập thể lớp 12D2 khóa 41(2016-2019) và tập thể lớp 12D2 khóa 44(2019-2022) do tôi trực tiếp làm chủ nhiệm.
IV. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Một số kinh nghiệm xây dựng môi trường giáo dục thân thiện cho tập thể lớp đông HS nữ.
V. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
1. Phương pháp nghiên cứu về lí luận:
Thu thập và đọc các tài liệu về lý luận, các văn bản pháp qui về vị trí, vai trò, chức năng, phẩm chất cần có, nhưng năng lực sư phạm cần thiết của người làm công tác chủ nhiệm lớp. Từ đó phân tích và tổng hợp các vấn đề lý luận liên quan đến SKKN.
2 . Phương pháp nghiên cứu thực tiễn :
– Phương pháp thống kê.
– Phương pháp khảo sát, quan sát.
– Phương pháp điều tra.
– Phương pháp so sánh, đối chiếu.
– Phương pháp phân tích, tổng hợp.
– Phương pháp thực nghiệm sư phạm.
VI . NHỮNG ĐIỂM MỚI VÀ ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI:
Trong quá trình tìm hiểu để viết đề tài sáng kiến kinh nghiệm “Một số kinh nghiệm xây dựng môi trường giáo dục thân thiện cho tập thể lớp có đông học sinh nữ”, tôi nhận thấy đề tài này chưa có tác giả nào đề cập đến một cách toàn diện với đối tượng học sinh Trung học phổ thông. Cũng có tác giả đề cập đến nhưng còn sơ sài, các giải pháp cụ thể còn chưa đầy đủ.
Đề tài “Một số kinh nghiệm xây dựng môi trường giáo dục thân thiện cho tập thể lớp có đông học sinh nữ’’ do chúng tôi thực hiện bên cạnh những kinh nghiệm những giải pháp để quản lý lớp chủ nhiệm còn nêu lên được những cách thức cần thiết để tạo sự gắn kết giữa các thành viên trong tập thể đông học sinh nữ để cho các em cảm nhận được “Mỗi ngày đến trường là một ngày vui” từ đó thúc đẩy ý chí phấn đấu học tập rèn luyện của bản thân để đạt được thành tích cao trong học tập, trở thành những công dân tốt cho xã hội.
Từ kinh nghiệm làm công tác chủ nhiệm nhiều năm cùng với sự tìm tòi học hỏi và mạnh dạn áp dụng phương pháp giáo dục tích cực của bản thân chúng tôi đã đúc rút kinh nghiệm, liên kết và xâu chuỗi thành hệ thống để các giáo viên chủ nhiệm tham khảo và có thể áp dụng không chỉ với lớp học của tôi mà của cả các bạn đồng nghiệp để tạo được một môi trường GD thân thiện, lan tỏa đến mỗi em học sinh thân yêu của chúng ta. Hy vọng đề tài này của chúng tôi sẽ đóng góp một phần nhỏ để nâng tầm công tác giáo dục của chúng ta, phù hợp trong giai đoạn hiện nay, như Nghị quyết Đại hội Đảng XIII đã chỉ rõ và yêu cầu ngành GD-ĐT.

PHẦN HAI: NỘI DUNG
I . CƠ SỞ LÝ LUẬN
1. Mục tiêu công tác giáo dục trong giai đoạn hiện nay
Luật Giáo dục đã nêu: “Mục tiêu giáo dục nhằm phát triển toàn diện con người Việt Nam có đạo đức, tri thức, văn hóa, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, có phẩm chất năng lực và ý thức công dân, có lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, phát huy tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân, nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế (Điều 2-Luật Giáo dục 2019 có hiệu lực từ 01/07/2020).
Theo dự thảo chiến lược thì mục tiêu tổng quát đến năm 2030 của Giáo dục Việt Nam là phát triển toàn diện con người Việt Nam, phát huy tối đa tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân, là nền tảng cho mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, đất nước phồn vinh và hạnh phúc.
Với mục tiêu ấy đòi hỏi những người làm giáo dục phải thật sự có khả năng, tâm huyết và trách nhiệm với công việc của mình để tạo ra một thế hệ trẻ đáp ứng được những yêu cầu của thời đại hiện nay. Xác định được điều đó, dựa vào thực tiễn ở trường THPT, tất cả các thầy cô giáo chúng tôi luôn ý thức được vai trò, nhiệm vụ của mình, từ đó có những cách thức, phương pháp cụ thể để có thể hoàn thành tốt công việc được giao phó.
2. Khái niệm và tiêu chí XD môi trường GD thân thiện cho tập thể có đông HS nữ
2.1: Khái niệm về môi trường giáo dục thân thiện
Như chúng ta biết, học tập là cả một quá trình lâu dài để người học tiếp thu kiến thức, trau dồi bản thân, rèn luyện phẩm chất đạo đức. Để có được kết quả cao trong học tập ta dựa vào rất nhiều yếu tố trong đó yếu tố môi trường học có vai trò rất lớn đối với chất lượng học tập của chúng ta. Chính vì vậy hiện nay môi trường giáo dục rất được đề cao, đặc biệt là môi trường giáo dục thân thiện.
Trường học thân thiện là một thành phần của môi trường học tập thân thiện. Đó là mô hình trường do Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) đề xướng từ những thập kỉ cuối của thế kỉ trước và đã được triển khai có kết quả tốt ở nhiều nước trên thế giới. Ở Việt Nam, phối hợp với UNICEF, Bộ đã làm thí điểm ở một số trường học và hiện tại được nhân rộng ra các trường trong phạm vi cả nước.
Môi trường học tập là những yếu tố từ bên ngoài và bên trong tác động đến việc học tập. Nó đóng vai trò rất quan trọng và góp phần quyết định sự tập trung, chú ý của người học, mà sự tập trung là yếu tố tiên quyết đến hiệu quả của việc học. Môi trường học tập có thể là vị trí, âm thanh, ánh sáng, cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương pháp giảng dạy từ giáo viên, cách học của những học sinh khác… “Thân thiện” được hiểu là có tình cảm tốt, đối xử tử tế và thân thiết với nhau, trong khái niệm này nó đã bao hàm sự công bằng, dân chủ về pháp lý và sự yêu thương, chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau. Trường học thân thiện là nơi đảm bảo cho học sinh học tập trong điều kiện an toàn về cơ sở vậy chất; tài liệu, học liệu sử dụng để giảng dạy phù hợp với mục tiêu, chương trình giáo dục, đảm bảo tính khoa học, chính xác… Hơn nữa, trường học thân thiện còn là nơi có sự “thân thiện” trong tập thể sư phạm với nhau, giữa học sinh với học sinh; người giáo viên phải tận tâm giảng dạy, công tâm trong quan hệ ứng xử, phải coi trọng việc giáo dục bình đẳng giới để học sinh nam và học sinh nữ biết quý trọng nhau, sống hòa đồng với nhau. Trường học thân thiện còn là nơi đảm bảo giữ gìn môi trường xanh – sạch – đẹp phù hợp với yêu cầu giáo dục. Như vậy, trường học thân thiện là trường học đảm bảo được sự an toàn, bình đẳng, tạo hứng thú cho học sinh học tập, góp phần đảm bảo quyền và nghĩa vụ học tập của học sinh, nâng cao chất lượng giáo dục của trường học ( học tập trong môi trường học tập thân thiện học sinh sẽ được tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí, văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao phù hợp với lứa tuổi và đặc điểm tâm sinh lý…).
2.2 Tập thể lớp đông học sinh nữ là gì?
a. Tập thể:
Tập thể là một cộng đồng xã hội đặc biệt, là hình thái tổ chức xã hội tập hợp những người có cùng mục đích, có hoạt động chung, có tổ chức chặt chẽ và hệ thống quan hệ phụ thuộc giữa các thành viên.
Những dấu hiệu cơ bản của một tập thể là tính thống nhất về mục đích và tính có tổ chức trong quá trình thực hiện các công việc chung.
b. Tập thể lớp và tập thể lớp có đông học sinh nữ:
– Khái niệm: Tập thể lớp là một hình thái tổ chức của học sinh, một tổ chức giáo dục có kỉ luật chặt chẽ, có nguyên tắc hoạt động nhất định được hình thành thông qua sự phân chia dựa trên các tiêu chí như độ tuổi, trình độ, các diện chính sách được ưu tiên theo quy định của pháp luật… có chức năng tổ chức, tập hợp, giáo dục học sinh nhằm thực hiện mục đích giáo dục.
– Tập thể lớp có các đặc trưng sau đây:
+ Có mục đích chung: tập thể lớp thống nhất với các học sinh trong lớp trong việc cùng nhau thực hiện những mục đích chung có ý nghĩa cho mỗi cá nhân và xã hội. Đó là mục đích học tập, tích lũy kiến thức, lao động, rèn luyện, trau dồi phẩm chất đạo đức, học hỏi, giúp đỡ lẫn nhau, tích cực chuẩn bị đầy đủ năng lực và phẩm chất để tham gia vào cuộc sống, vào quá trình lao động xã hội.
+ Có hoạt động chung: mục đích của tập thể lớp được thực hiện thông qua các hoạt động chung của các thành viên trong tập thể lớp như: hoạt động học tập, hoạt đọng lao động, hoạt động xã hội – công ích, hoạt động văn hóa – thể thao, hoạt động vui chơi – giải trí… Tuy nhiên, những hoạt động này đòi hỏi phải phù hợp với tâm lý lứa tuổi, trình độ nhận thức, vốn sống, vốn kinh nghiệm và điều kiện học tập, sinh hoạt của số đông học sinh trong tập thể.
+ Có hệ thống quan hệ kết nối chặt chẽ với nhau: quan hệ giữa quyền – nghĩa vụ học tập, quan hệ lãnh đạo – tuân theo, quan hệ phối hợp – tương tác, quan hệ tình cảm – trách nhiệm… luôn tồn tại song hành đề tập thể lớp phát triển.
+ Có đội ngũ cán bộ: đội ngũ cán bộ do tập thể lớp bầu chọn có chức năng tổ chức và lãnh đạo tập thể học sinh trong lớp.
Như vậy, có thể hiểu khái quát về tập thể lớp có đông học sinh nữ như sau:
Tập thể lớp có đông học sinh nữ là một hình thái tổ chức của học sinh, một tổ chức giáo dục có kỉ luật chặt chẽ, có nguyên tắc hoạt động nhất định, được hình thành thông qua sự phân chia dựa trên các tiêu chí như độ tuổi, trình độ, các diện chính sách được ưu tiên theo quy định của pháp luật… trong đó số lượng học sinh nữ chiếm đa số trong tổng số học sinh của tập thể lớp nhưng vẫn đảm bảo các đặc trưng của một tập thể lớp có số lượng nam nữ cân bằng.
2.3 Các tiêu chí XD môi trường GD thân thiện
Thế giới quan luôn vận động, xã hội vẫn không ngừng phát triển vì vậy nó đặt ra yêu cầu cần thiết cho ngành giáo dục cũng cần có những thay đổi, những điểm mới và việc xây dựng môi trường giáo dục thân thiện đang là vấn đề không chỉ ngành giáo dục mà toàn xã hội phải quan tâm.
– Môi trường giáo dục thân thiện phải đảm bảo đầy đủ các yếu tố: cảnh quan môi trường, điều kện cơ sở vật chất, trang thiết bị, đội ngũ nhà giáo, người học. Do đó có thể đưa ra các tiêu chí xây dựng môi trường giáo dục thân thiện như sau:
+ Xây dựng cảnh quan môi trường ( trường lớp xanh – sạch – đẹp ): để có một trường học thân thiện thì trường học cần cảnh quan môi trường sạch sẽ, thoáng mát, rộng rãi, có nhiều cây xanh và hoa trong khuôn viên trường…
+ Điều kiện cơ sở vật chất: cần đầy đủ các phòng học, phòng chức năng, khu nhà vệ sinh, khu vui chơi…
– Dạy và học có hiệu quả, phù hợp với lứa tuổi của học sinh, giúp các em tự tin trong học tập. Muốn vậy thì:
+ Các thầy cô giáo cần nhiệt tình, năng động, sáng tạo, có chuyên môn tốt, có đạo đức, phẩm chất, lối sống tốt, tận tâm với nghề, hết lòng vì học sinh.
+ Học sinh cần có ý thức đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong việc học tập, các hoạt động tập thể và có ý thức thực hiện tốt nội quy nhà trường.
+ Rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh.
+ Tổ chức hoạt động tập thể, vui chơi lành mạnh: nhà trường cần tổ chức nhiều sân chơi, cuộc thi bổ ích để học sinh tham gia, tạo không khí học tập sôi nổi, đồng thời rèn luyện kiến thức thực tiễn cho học sinh.
+ Áp dụng hình thức dạy sáng tạo: điều này giúp người học có thể phát huy hết khả năng của mình khi tự tìm hiểu và khám phá.
+ Tham gia tìm hiểu, chăm sóc và phát huy giá trị các di tích lịch sử, văn hóa, cách mạng ở điạ phương.
Việc xây dựng môi trường học tập thân thiện cần có sự chung tay của nhà trường, cha mẹ học sinh và đặc biết là vai trò của học sinh từ trong tập thể nhỏ đến tập thể lớn hơn. Từ đó học sinh sẽ có động lực tích cực vào mỗi buổi đi học của mình, có như vậy thì chất lượng giáo dục mới được nâng cao hơn.
2.4. Đặc điểm của tập thể lớp đông HS nữ.
* Ưu điểm:
– Tích cực tham gia các phong trào thi đua học tập và văn nghệ của trường và lớp (khéo tay hay làm, chăm chỉ).
– Giữ môi trường lớp học luôn xanh sạch đẹp (yêu thích sự gọn gàng, sạch đẹp, khác với các bạn nam, các bạn nữ thường không tham gia vào các hoạt động vui chơi mạnh, đòi hỏi phải vận động mạnh như: bóng đá, bóng rổ,bóng chuyền,…).
– Có thể học tốt các môn KHXH (văn, anh, giáo dục công dân, sử, địa): có thiên hướng về ghi nhớ hơn các bạn nam (tư duy), chăm chỉ siêng năng, lời nói ngôn từ phong phú, đa dạng.
– Tình cảm, gắn bó với nhau (thích thể hiện tình cảm, chăm sóc nhau).
– Tự tin về bản thân mình hơn (không bị áp lực về khả năng tiếp thu kiến thức tự nhiên của các bạn nam. Trái lại, nếu tập thể lớp ít nam sinh hơn nữ sinh thì nam sinh cũng không bị ảnh hưởng nhiều bởi kiến thức xã hội có thể dễ dàng nắm bắt tốt vì gần gũi với thực tế đời sống hằng ngày).
– Tập trung vào việc học tốt hơn (không cần phải gây ấn tượng với các bạn khác giới).
– Dễ dàng đồng điệu về tâm hồn, thấu hiểu, chia sẻ vs nhau giúp nhau hoàn thiện bản thân: con gái thường dễ bộc lộ và bày tỏ cảm xúc của mình. Nếu một người bạn trong lớp mình gặp chuyện khó khăn cần giúp đỡ, thì những bạn còn lại sẵn sàng tâm sự, chia sẻ và đưa ra nhưng lời khuyên, lời an ủi chân thành nhất để giúp bạn vượt qua.
– Linh hoạt trong tổ chức các sự kiện của lớp, các hoạt động ngoại khóa của lớp, của trường (sáng tạo, khéo léo, dễ dàng nắm bắt những yêu cầu, những khâu tổ chức cần thiết cho một sự kiện, buổi lễ, bữa tiệc của lớp).
* Nhược điểm:
– Gặp khó khăn trong những hoạt động, lao động nặng nhọc.
– Thi thoảng có những bất về đồng về quan điểm dẫn đến xích mích.
– Chạy theo phong trào ( ăn diện đẹp, làm đẹp) -> lơ là việc học.
– Không có lợi thế về các môn KHTN.
3.Vị trí của GVCN lớp:
GVCN lớp được thay mặt Hiệu trưởng quản lí và tổ chức học tập, rèn luyện đạt mục tiêu đào tạo. GVCN vừa đóng vai trò quản lí hành chính nhà nước, vừa đóng vai trò người thầy giáo, đồng thời còn đóng vai trò người đại diện cho quyền lợi của tập thể lớp.
– GVCN là người được Ban giám hiệu phân công chịu trách nhiệm quản lí công tác giáo dục và đào tạo học sinh ở lớp mình phụ trách, là người chịu toàn bộ trách nhiệm trước Ban giám hiệu và Nhà trường về mọi vấn đề thuộc lớp mình. Vì vậy GVCN là người đại diện Hiệu trưởng quản lý hoạt động học tập sinh hoạt của một lớp học trong nhà trường.
– GVCN chiếm vị trí trung tâm, trụ cột trong quá trình giáo dục, rèn luyện học sinh, là linh hồn của lớp học, là cố vấn đáng tin cậy dẫn dắt, định hướng giúp học sinh biết vươn lên, tự hoàn thiện và phát triển nhân cách. Sự phát triển toàn diện, sự đi lên của tập thể lớp có vai trò vô cùng quan trọng của GVCN.
– GVCN lớp là người lãnh đạo, tổ chức, điều hành, kiểm tra mọi hoạt động, các mối quan hệ ứng xử thuộc lớp mình phụ trách theo đúng chương trình và kế hoạch của nhà trường. Thực hiện tốt công tác chủ nhiệm lớp là trong đó đã xây dựng được một lớp học có nề nếp, có thói quen học tập tốt, phát huy được tính chủ động tích cực học tập của học sinh, góp phần vào việc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay, nhằm nâng cao chất lượng học tập, giáo dục đạo đức, hoàn thiện nhân cách của học sinh.
– GVCN là cầu nối giữa lớp và các giáo viên bộ môn, Ban giám hiệu, tổ chuyên môn, các tổ chức đoàn thể trong nhà trường (Công đoàn, Đoàn Thanh niên, hội Cha mẹ học sinh).
4. Chức năng của GVCN lớp :
– Trước hết, GVCN là người quản lí giáo dục toàn diện học sinh một lớp: Quản lí giáo dục không chỉ là nắm được những chỉ số của quản lí hành chính như: tên tuổi, số lượng, gia cảnh, trình độ học sinh về học lực và đạo đức, … mà còn phải dự báo xu hướng phát triển nhân cách của học sinh trong lớp để có phương hướng tổ chức hoạt động giáo dục, dạy học phù hợp với điều kiện, khả năng của mỗi học sinh. Cần đặc biệt quan tâm tới việc đồng thời quản lí học tập và quản lí sự hình thành và phát triển nhân cách. Hai mặt trên có quan hệ hỗ trợ, tác động lẫn nhau, việc giáo dục đạo đức có tác động mạnh mẽ đến chất lượng học văn hóa, nhất là trong điều kiện hiện nay khi từng ngày từng giờ những cám dỗ, những ảnh hưởng tiêu cực của xã hội tác động vào nhà trường.
– Chức năng thứ hai của GVCN là tổ chức tập thể học sinh hoạt động tự quản nhằm phát huy tiềm năng tích cực của mọi học sinh.
Nhiệm vụ của GVCN là bồi dưỡng năng lực tự quản cho học sinh của lớp, ở cấp THPT, GVCN được xác định chỉ là cố vấn cho tập thể lớp. Đội ngũ tự quản thường được thay đổi luân phiên để sau một cấp học, các em có thể được huấn luyện tự quản nhiều lần từ đơn giản đến phức tạp.
GVCN là người giúp học sinh tự tổ chức các hoạt động đã được kế hoạch hóa. Điều đó không có nghĩa là khoán trắng, đứng ngoài hoạt động của tập thể học sinh lớp học mà nên cùng hoạt động, điều chỉnh hoạt động kịp thời giúp các em tháo gỡ những khó khăn trong quá trình hoạt động, tranh thủ các lực lượng trong và ngoài nhà trường, tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh của lớp tổ chức hoạt động.
– Chức năng thứ ba: GVCN là cầu nối giữa tập thể học sinh với các tổ chức xã hội trong và ngoài nhà trường, là người tổ chức phối hợp các lực lượng giáo dục:
+ GVCN có trách nhiệm truyền đạt đầy đủ nghị quyết, tư tưởng chỉ đạo của Ban giám hiệu tới học sinh lớp chủ nhiệm với phương pháp thuyết phục, thái độ nghiêm túc để mỗi học sinh và tập thể lớp ý thức đầy đủ trách nhiệm phải tuân thủ, tự giác thực hiện.
+ GVCN là người đại diện cho quyền lợi chính đáng của học sinh trong lớp, bảo vệ học sinh về mọi mặt một cách hợp lí, phản ánh với Hiệu trưởng, các giáo viên bộ môn, gia đình và đoàn thể trong và ngoài nhà trường về nguyện vọng chính đáng của học sinh.
– Chức năng thứ tư của GVCN là đánh giá khách quan kết quả rèn luyện của mỗi học sinh và phong trào chung của lớp.
Chức năng này có ý nghĩa cực kì quan trọng đối với quá trình học tập, rèn luyện, phát triển nhân cách của mỗi học sinh vì sự đánh giá khách quan, chính xác, đúng mức là một điều kiện để thầy trò điều chỉnh mục tiêu, kế hoạch, … hoạt động cho cả lớp và mỗi thành viên.
Trên đây là một số chức năng chủ yếu của GVCN ở trường THPT trong giáo dục học sinh. Để thực hiện tốt các chức năng trên, GVCN cần có những nhiệm vụ cụ thể, có những yêu cầu nhất định.
5. Nhiệm vụ và những năng lực sư phạm cần thiết của GVCN lớp :
5.1. Nắm vững mục tiêu giáo dục của cấp học, lớp học và chương trình dạy học, giáo dục của trường.
Đây là nhiệm vụ trước mắt, cần thiết vì chỉ trên cơ sở nắm vững mục tiêu cấp học, nhiệm vụ năm học của Bộ và chương trình hoạt động và dạy học của trường thì mới có cơ sở để xây dựng kế hoạch hoạt động của lớp chủ nhiệm, có khả năng thực thi và đảm bảo hiệu quả giáo dục.
Ở mỗi trường đều có các văn bản cần thiết sau đây:
+ Mục tiêu cấp học.
+ Chỉ thị từng năm học – thực chất đó là nhiệm vụ trọng tâm hàng năm.
+ Chương trình giảng dạy các môn hộc.
+ Kế hoạch năm học của nhà trường.
+ Một số văn bản hướng dẫn các công tác liên quan đến vấn đề giáo dục, dạy học như: vấn đề thu học phí, miễn giảm đóng góp, chế độ chính sách đối với con em thương binh liệt sĩ, quy chế khen thưởng học sinh, chức năng nhiệm vụ của Đoàn thanh niên, Đội Thiếu niên Tiền Phong trong giáo dục.
5.2 Tìm hiểu để nắm vững cơ cấu tổ chức của nhà trường:
Nhiệm vụ này được cụ thể hóa bằng các công việc sau đây:
+ Nắm được sự tổ chức và phân công của Ban giám hiệu.
+ Nắm được cơ cấu tổ chức chi bộ, Đoàn, công đoàn nhà trường sau các đại hội hàng năm.
+ Hiểu biết về đội ngũ giáo viên, các tổ chuyên môn và số giáo viên các môn học dạy ở lớp chủ nhiệm. Việc quan trọng là hiểu từng giáo viên sẽ dạy ở lớp chủ nhiệm về hoàn cảnh, trình độ, năng lực, tính cách để thiết lập mối quan hệ phối hợp trong giáo dục. Nhiều GVCN có kinh nghiệm thường mời tất cả giáo viên bộ môn tham gia Đại hội lớp học sinh chủ nhiệm. Sau đó thống nhất với đội ngũ này một số nguyên tắc, yêu cầu chung trong giáo dục.
5.3. Tiếp nhận học sinh lớp chủ nhiệm, nghiên cứu và phân tích mọi đặc điểm của đối tượng trong lớp và các yếu tố tác động đến các em bao gồm đặc điểm tâm sinh lí, nhân cách, năng lực của mỗi em, hoàn cảnh gia đình và sự quan tâm của gia đình đối với con em mình.
Để thực hiện nhiệm vụ này, GVCN phải kết hợp nhiều phương pháp, phối hợp với nhiều lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường. Việc nhanh chóng hiểu từng em trong lớp là một nội dung và nhiệm vụ rất quan trọng của GVCN, để trên cơ sở đó, GVCN xây dựng một chương trình giáo dục, tổ chức hoạt động toàn diện các mặt nhằm phát triển trí tuệ, nhân cách, năng lực của học sinh lớp chủ nhiệm trên nguyên tắc phát triển năng lực tự quản của em.

0/5 (0 Reviews)
0/5 (0 Reviews)

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

10;11;12
Chủ nhiệm
4.5/5
TÀI LIỆU WORD

100.000