SKKN Sử dụng công nghệ thông tin và bản đồ tư duy nhằm nâng cao hiệu quả dạy và học lịch sử địa phương (bài “Thanh Hóa từ năm 1919 đến năm 1945”)

Giá:
50.000 đ
Môn: Lịch sử
Lớp: 9
Bộ sách:
Lượt xem: 1642
Lượt tải: 4
Số trang: 32
Tác giả:
Trình độ chuyên môn:
Đơn vị công tác:
Năm viết:
Số trang: 32
Tác giả:
Trình độ chuyên môn:
Đơn vị công tác:
Năm viết:

Sáng kiến kinh nghiệm “SKKN Sử dụng công nghệ thông tin và bản đồ tư duy nhằm nâng cao hiệu quả dạy và học lịch sử địa phương (bài “Thanh Hóa từ năm 1919 đến năm 1945”)” triển khai gồm các biện pháp nổi bật sau:

1. Xây dựng BĐTD trên phần mềm iMindmap
2. Sử dụng BGĐT và mạng Internet để dạy cách vẽ BĐTD cho học sinh
3. Sử dụng BĐTD và CNTT nâng cao hiệu quả dạy và học bài “Thanh Hóa từ năm 1919 đến năm 1945”

Mô tả sản phẩm

A . MỞ ĐẦU

  1. Lí do chọn đề tài:

Lịch sử địa phương là một bộ phận có mối quan hệ hữu cơ, làm phong phú, sáng tỏ thêm tri thức lịch sử dân tộc. Việc giảng dạy lịch sử địa phương không chỉ giúp học sinh hiểu sâu sắc hơn kiến thức lịch sử dân tộc, trang bị thêm kiến thức, rèn luyện thêm kĩ năng mà còn giáo dục cho các em tình cảm yêu mến, lòng tự hào về quê hương, con đường tiến tới tình yêu đất nước. Chính vì vậy, “học sinh không chỉ biết lịch sử thế giới và lịch sử dân tộc mà còn phải biết yêu mến và tự hào về truyền thống lịch sử và bảo vệ quê hương” ().

Bắt nguồn từ vai trò quan trọng của việc giảng dạy lịch sử địa phương, từ năm học …………trở đi, Sở Giáo dục và Đào tạo Thanh Hóa đã đưa sách giáo khoa lịch sử địa phương vào chương trình giảng dạy trên toàn tỉnh, thay thế cho tài liệu địa phương cũ. Sách giáo khoa lịch sử địa phương Thanh Hóa được biên soạn theo nguyên tắc: Phù hợp với nội dung chương trình về dạy học lịch sử địa phương; phản ánh được những thành tựu hiện đại về khoa học lịch sử trong tỉnh, cung cấp những kiến thức tương đối ổn định trong nghiên cứu; đảm bảo quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về mặt lịch sử và giáo dục, đảm bảo tính thẩm mĩ.

Từ đầu năm …………, Sở phát hành tài liệu Thiết kế bài giảng lịch sử Thanh Hóa. Đây là bước tiến mạnh mẽ, thể hiện sự quan tâm của các cấp lãnh đạo, quản lí giáo dục đến vấn đề dạy học lịch sử địa phương. Nhiều giáo viên đã đầu tư thời gian, công sức cho các giờ học lịch sử địa phương (sưu tầm thêm tư liệu, tranh ảnh, tổ chức thăm di tích lịch sử, mời nói chuyện truyền thống, …).

Tuy nhiên, việc dạy học lịch sử địa phương vẫn chưa được coi trọng đúng mức. Nhiều giáo viên vẫn xem tiết lịch sử địa phương chỉ là những tiết “chữa cháy”, chỉ được giảng dạy qua loa, thậm chí không dạy. Phương pháp dạy học lịch sử địa phương vì thế cũng chưa được chú trọng đổi mới, chưa thật thúc đẩy tính tích cực, chủ động của học sinh. Việc sử dụng công nghệ thông tin hay bản đồ tư duy vào dạy học lịch sử địa phương còn hạn chế.

Xuất phát từ thực tế trên, với mong muốn nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử địa phương nói chung và bài “Thanh Hóa từ năm 1919 đến năm 1945” nói riêng, tôi đã tìm hiểu và thực hiện đề tài: Sử dụng công nghệ thông tin và bản đồ tư duy nhằm nâng cao hiệu quả dạy và học lịch sử địa phương (bài “Thanh Hóa từ năm 1919 đến năm 1945”).

  1. Mục đích nghiên cứu:

Mục đích nghiên cứu nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng dạy học lịch sử địa phương Thanh Hóa giúp các em hiểu sâu sắc truyền thống lịch sử từ đó thể hiện lòng tự hào về lịch sử địa phương mình nói riêng và lịch sử dân tộc nói chung.

III. Đối tượng nghiên cứu:

Chương trình lịch sử địa phương lớp 9 (bài “Thanh Hóa từ năm 1919 đến năm 1945”).

Học sinh khối 9 trường THCS Hoằng Đạt – Hoằng Hóa – Thanh Hóa.

  1. Phương pháp nghiên cứu:

– Tìm hiểu lí luận phương pháp nghiên cứu dạy học tích cực bằng bản đồ tư duy.

– Soạn giáo án, ứng dụng công nghệ thông tin để thiết kế bài giảng điện tử bài “Thanh Hóa từ năm 1919 đến năm 1945”.

– Giảng dạy thể nghiệm, kiểm tra học sinh lớp thực nghiệm và đối chứng, đánh giá và so sánh.

  1. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
  2. Cơ sở lí luận:

Nghị quyết số 29 – NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 4 – 11 – 2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nhấn mạnh nghiệp vụ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học”, trong đó việc “tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kĩ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ một chiều… đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy và học”, là một trong những giải pháp chủ yếu. Những chỉ thị, hướng dẫn nhiệm vụ năm học của các cấp quản lí ngành giáo dục đã và đang cụ thế hóa những nhiệm vụ, giải pháp trên vào thực tiễn.

Bản đồ tư duy  (BĐTD) (mindmap, còn gọi là sơ đồ tư duy), ‘chú trọng đến cơ chế ghi nhớ, dạy cách học, cách tự học nhằm tìm tòi, đào sâu, mở rộng một ý tưởng, hệ thống hóa một chủ đề hay một mạch kiến thức, … bằng cách kết hợp việc sử dụng đồng thời hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết với sự tư duy tích cực”()

“Dạy học bằng BĐTD là dạy học GV, HS thực hiện nhiệm vụ dạy học thông qua việc lập BĐTD, trong đó chủ đạo hơn là giáo viên tổ chức cho học sinh tìm hiểu một vấn đề một nhiệm vụ học tập thông qua BĐTD”().

Phương pháp dạy học bằng BĐTD có ưu điểm là kích thích hứng thú học tập, sáng tạo của học sinh; giúp học sinh mở rộng ý tưởng, đào sâu hệ thống hóa, ôn tập kiến thức, giúp ghi nhớ nhanh, sâu, lâu kiến thức. BĐTD cho phép phát triển ý tưởng dễ dạy, dễ học, dễ nhớ, dễ thực hiện và tiện lợi. Đó là phương pháp trực quan, dễ nhìn, dễ hiểu do được thể hiện bằng màu sắc, có liên hệ, liên kết giữa các ý của một vấn đề.().

Đối với giáo viên, BĐTD góp phần đổi mới và làm phong phú các phương pháp dạy học tích cực, giúp công việc của giáo viên nhẹ nhàng hơn so với cách dạy truyền thống. Dạy bằng BĐTD sẽ làm cho thầy và trò không bị mất thời gian vào các chi tiết vụn vặt, trùng lặp mà tập trung thảo luận sâu và phát triển vấn đề cốt lõi của bài. Dạy học bằng BĐTD còn có tác dụng phân loại đối tượng học sinh: học sinh khá, giỏi, phát huy được khả năng sáng tạo, lập bản đồ tư duy theo sự hiểu biết của mình, hiểu bài, nhớ bài lâu và sâu. Trái lại, học sinh trung bình trở xuống khó tiếp cận, vận dụng chậm hơn. Do đó, khi dạy học theo BĐTD giáo viên có thế giành thời gian hướng dẫn cho những đối tượng học sinh này nhiều hơn.

Với vật liệu dễ kiếm, rất kinh tế, cách làm đơn giản, dạy học bằng BĐTD có thế áp dụng được ở tất cả các trường học nơi cơ sở hạ tầng chưa được đầu tư hoặc đầu tư chưa được đầy đủ.

Công nghệ thông tin (CNTT) là ngành ứng dụng công nghệ quản lí và xử lí thông tin, là ngành sử dụng máy tính và các phần mềm của nó để chuyển đổi lưu trữ, bảo vệ, xử lí truyền và thu thông tin.

Có nhiều hình thức ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học: E-learning (học trực tuyến), sử dụng bài giảng điện tử (BGĐT) trong giảng dạy, sử dụng Internet trong việc tìm kiếm các thông tin phục vụ dạy học, trao đổi chuyên sâu, chia sẻ tài nguyên trên các mạng xã hội, …

Lịch sử là những gì đã diễn ra trong quá khứ xã hội loài người. Do đó, việc tiếp cận và tái hiện lịch sử gần giống như nó đã từng tồn tại là một việc rất khó khăn. Vì vậy, nếu giáo viên sử dụng những tư liệu lịch sử như: Hình ảnh, bản đồ, biểu đồ, phim tư liệu, … vào giảng dạy thì sẽ góp phần rất lớn giúp học sinh có thể tái hiện lại những sự kiện lịch sử gần giống như nó đã từng tồn tại – đây là điều rất

0/5 (0 Reviews)
0/5 (0 Reviews)

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

Theo dõi
Thông báo của
guest