SKKN Một số giải pháp tích hợp giáo dục hướng nghiệp cho học sinh lớp 12 thông qua môn công nghệ

4.5/5

Giá:

100.000 đ
Cấp học: THPT
Môn: Công Nghệ
Lớp: 12
Bộ sách:
Lượt xem: 675
File:
TÀI LIỆU WORD
Số trang:
54
Lượt tải:

10

Sáng kiến kinh nghiệm “SKKN Vận dụng thuyết đa trí tuệ trong dạy học phần “Sóng Ánh Sáng” Vật lí 12 theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh″ triển khai các biện pháp như sau: 

1. Xây dựng các giải pháp tích hợp giáo dục hướng nghiệp thông qua môn Công Nghệ lớp 12
1.1. Phương pháp thảo luận nhóm
1.2. Phương pháp trải nghiệm thông qua các dự án học tập
1.3. Ứng dụng chuyển đổi số
2. Hình thành các định hướng nghề nghiệp của học sinh qua các giải pháp

Mô tả sản phẩm

ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lí do chọn đề tài
Nghề nghiệp là một vấn đề quan trọng đối với cuộc đời của mỗi con người. “Chọn nghề gì?” luôn là vấn đề trăn trở đối với học sinh THPT khi bước vào ngưỡng cửa cuộc đời. Có nghề nghiệp sẽ giúp chúng ta ổn định cuộc sống và đem lại giá trị tích cực cho xã hội. chọn được nghề phù hợp với nguyện vọng bản thân, đồng thời đáp ứng được nhu cầu của xã hội, góp phần vào việc phân luồng và sử dụng hợp lý nguồn lao động trong thời kì đổi mới.
Tuy nhiên, lựa chọn được một nghề nghiệp phù hợp với bản thân luôn là vấn đề khó khăn, đặc biệt là với những học sinh trung học phổ thông, khi mà các em sắp bước vào cánh của cuộc đời. Vì vậy, năng lực tự định hướng nghề nghiệp là một năng lực quan trọng của học sinh THPT, giúp các em có định hướng rõ ràng về công việc trong tương lai phù hợp với năng lực bản thân đồng thời đáp ứng nhu cầu xã hội, góp phần phát triển kinh tế đất nước.
Một trong những con đường có thể giúp học sinh phát triển năng lực tự định hướng nghề nghiệp đó là thông qua dạy học các môn văn hóa. Khi lí thuyết từ sách vở gắn liền với thực tiễn cuộc sống, không chỉ làm tăng hứng thú của học sinh với các môn học mà còn góp phần mang lại những hiểu biết cơ bản về các ngành nghề có liên quan đến kiến thức môn học, từ đó hình thành cho các em động cơ, nhu cầu và góp phần giáo dục định hướng nghề nghiệp cho học sinh trong tương lai.
Trong thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo. Bên cạnh nội dung giáo dục cốt lõi, trong mỗi năm học, những học sinh có thiên hướng khoa học tự nhiên được chọn học một số ngành như: điện tử, cơ khí…Vì vậy trong hoạt động giáo dục của nhà trường, chương trình hướng nghiệp đóng vai trò quan trọng, giúp cho học sinh định hướng nghề nghiệp cho phù hợp với bản thân và xu thế nhu cầu việc làm của xã hội, nhất là tích hợp,lồng ghép trong các bộ môn cho học sinh.
Tuy nhiên, hiện nay vấn đề tích hợp, lồng ghép các hoạt động giáo dục hướng nghiệp qua các môn học, nhất là môn công nghệ vẫn còn chưa thực hiện đồng bộ ,đa số giáo viên chưa chú trọng và còn lúng túng về mặt phương pháp tổ chức. Do vậy hiệu quả giáo dục mang lại chưa cao.
Do vậy, với giáo viên dạy môn Công Nghệ lớp 12 bên cạnh việc tổ chức các hoạt động dạy học để học sinh chiếm lĩnh kiến thức và hình thành kĩ năng thì cần tích hợp giáo dục hướng nghiệp qua các hoạt động dạy học, từ đó giúp học sinh không chỉ yêu thích môn học mà còn có thể lựa chọn nghề nghiệp phù hợp cho bản thân. Xuất phát từ những vấn đề trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu: “MỘT SỐ GIẢI PHÁP TÍCH HỢP GIÁO DỤC HƢỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH LỚP 12 THÔNG QUA MÔN CÔNG NGHỆ”. Giúp học sinh
hiểu sâu hơn vai trò của môn Công nghệ trong đời sống thực tế, những ngành nghề có liên quan đến môn học này, để học sinh có cơ sở định hướng nghề nghiệp sau này cũng như có đủ năng lực để giải quyết những vấn đề có liên quan đến các ngành có sử dụng kĩ năng của môn học và tiếp tục tự học hoá học suốt đời.
2. Tính mới và đóng góp của đề tài.
– Đa dạng hóa các hình thức dạy học nhằm tích hợp giáo dục hướng nghiệp góp phần phát triển các phẩm chất, năng lực của học sinh.
+ Học sinh vận dụng kiến thức môn Công nghệ để tìm hiểu các nghề nghiệp có liên quan cho bản thân.
+ Khơi dậy niềm đam mê, theo đuổi với các ngành nghề về điện, điện tử, định hướng các ngành nghề tương lai cho học sinh ở trường THPT
3. Phạm vi nghiên cứu.
– Đề tài đã tổ chức thực nghiệm ở đơn vị công tác và một số trường THPT thuộc huyện Quỳ Hợp
– Đề tài có khả năng ứng dụng rộng rãi và phù hợp ở nhiều trường THPT trên địa bàn tỉnh Nghệ An
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
– Nghiên cứu cơ sở lí luận về giáo dục định hướng nghề nghiệp cho học sinh.
– Nghiên cứu về thực trạng vận dụng kiến thức, kĩ năng vào thực tiễn trong dạy học môn Công nghệ ở các trường phổ thông hiện nay nhằm giáo dục định hướng nghề nghiệp cho học sinh.
– Xây dựng công cụ đánh giá để đánh giá tính cấp thiết và khả thi của đề tài.
– Kết luận khoa học và đề xuất một số khuyến nghị.
5. Thời gian nghiên cứu và thực nghiệm.
– Các giải pháp trong sáng kiến được thực nghiệm trong hai năm: năm học 2021- 2022 và 2022- 2023.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu.
– Thu thập thông tin, tìm hiểu thực tế.
– Xử lý, tổng hợp thông tin, khái quát, rút ra kết luận và đề ra giải pháp phù hợp.
– Thể nghiệm đề tài vào thực tiễn và tiếp tục bổ sung hoàn thiện.

PHẦN II: NỘI DUNG
A. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.Tổng quan những nghiên cứu liên quan đến đề tài.
Vấn đề tích hợp các chủ đề trong chương trình THPT đã có nhiều tác giả viết
như “Khơi nguồn cảm hứng học tập và định hướng nghề nghiệp cho học sinh THPT thông qua chuyên đề Hóa học trong việc phòng chống cháy, nổ” của tác giả Nguyễn Thị Hằng môn Hoá học.Với môn công nghệ 12 đã có một số tác giả đề cập như “ Dạy chủ đề linh kiện điện tử theo hướng nghề nghiệp cho học sinh” của tác giả Hoàng Thị Thanh Nhàn. Tuy nhiên vấn đề tích hợp giáo dục hướng nghiệp trong toàn bộ chương trình Công Nghệ 12 với các hình thức dạy học đa dạng thì trong các công trình mà tôi sưu tập được chưa tác giả nào đề cập, đó là một khoảng trống lớn về lí luận và thực nghiệm mà đề tài của tôi thực hiện.
2. Cơ sở lí luận
2.1. Một số vấn đề về giáo dục hướng nghiệp
Hƣớng nghiệp là các hoạt động nhằm hỗ trợ mọi cá nhân chọn lựa và phát triển chuyên môn nghề nghiệp phù hợp nhất với khả năng của cá nhân, đồng thời đáp ứng nhu cầu nhân lực cho tất cả các lĩnh vực nghề nghiệp (thị trường lao động)ở cấp độ địa phương và quốc gia.
Giáo dục hƣớng nghiệp là một bộ phận của giáo dục toàn diện giúp mỗi học sinh có sự hiểu biết về tính chất của ngành nghề mà mình hướng tới, biết phân tích thị trường hoạt động và tháo gỡ vướng mắc hoặc rèn luyện bản thân, từ đó mỗihọc sinh tự xác định được đâu là nghề nghiệp phù hợp hoặc không phù hợp với mình.
Trong hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở trường THPT, hoạt động tư vấn nghề có liên quan tới hiệu trưởng, ban hướng nghiệp, giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn, thư viện, y tế,… Trong đó, hiệu trưởng là người phụ trách chung về các hoạt động hướng nghiệp trong nhà trường, trong đó có hoạt động tư vấn. Hiệu trưởng có trách nhiệm thông qua và ký các quyết định về kế hoạch tiến hành các hoạt động tư vấn trong và ngoài trường. Ban hướng nghiệp chịu trách nhiệm thu thập xử lý những thông tin do các bộ phận cung cấp, đưa ra những nhận định, đánhgiá sơ bộ về xu hướng nghề của học sinh.
2.2 . Một số phương pháp trong tích hợp giáo dục hướng nghiệp cho học sinh
*Dạy học dự án (DHDA)
Dạy học dự án là một hình thức dạy học, trong đó người học thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, tạo ra các sản phẩm có thể giới thiệu. Nhiệm vụ này được người học thực hiện với tính tự lựccao trong toàn bộ quá trình học tập, từ việc xác định mục đích, lập kế hoạch, đến việc thực hiện dự án, kiểm tra, điều chỉnh, đánh giá quá trình và kết quả thực hiện. Làm việc nhóm là hình thức cơ bản của DHDA.
Dựa trên cấu trúc chung của một dự án trong lĩnh vực sản xuất, kinh tế, nhiều tác giả phân chia cấu trúc của dạy học theo dự án qua 4 giai đoạn sau: Quyết định, lập kế hoạch, thực hiện, kết thúc dự án. Dựa trên cấu trúc của tiến trình phương pháp, người ta có thể chia cấu trúc của DHDA làm nhiều giai đoạn nhỏ hơn. Sau đây trình bày một cách phân chia các giai đoạn của dạy hoc theo dựán theo 5 giai đoạn.
+ Bước 1: Chọn đề tài và xác định mục đích của dự án:
Giáo viên và học sinh cùng nhau đề xuất, xác định đề tài và mục đích của dựán. Cần tạo ra một tình huống xuất phát, chứa đựng một vấn đề, hoặc đặt một nhiệm vụ cần giải quyết, trong đó chú ý đến việc liên hệ với hoàn cảnh thực tiễn xãhội và đời sống. Cần chú ý đến hứng thú của người học cũng như ý nghĩa xã hội của đề tài. Giáo viên có thể giới thiệu một số hướng đề tài để học sinh lựa chọn và cụ thể hoá. Trong trường hợp thích hợp, sáng kiến về việc xác định đề tài có thể xuất phát từ phía học sinh.
+ Bước 2: Xây dựng kế hoạch thực hiện:
Trong giai đoạn này, học sinh với sự hướng dẫn của giáo viên xây dựng đề cương cũng như kế hoạch cho việc thực hiện dự án. Trong việc xây dựng kế hoạch cần xác định những công việc cần làm, thời gian dự kiến, vật liệu, kinh phí,phương pháp tiến hành và phân công công việc trong nhóm.
+ Bước 3: Thực hiện dựán:
Các thành viên thực hiện công việc theo kế hoạch đã đề ra cho nhóm và cá nhân. Trong giai đoạn này học sinh thực hiện các hoạt động trí tuệ và hoạt động
thực tiễn, thực hành, những hoạt động này xen kẽ và tác động qua lại lẫn nhau. Kiến thức lý thuyết, các phương án giải quyết vấn đề được thử nghiệm qua thực tiễn. Trong quá trình đó sản phẩm của dự án và thông tin mới được tạo ra.
+ Bước 4: Thu thập kết quả và công bố sản phẩm:
Kết quả thực hiện dự án có thể được viết dưới dạng thu hoạch, báo cáo, tiểu luận… Trong nhiều dự án các sản phẩm vật chất được tạo ra qua hoạt động thực hành. Sản phẩm của dự án cũng có thể là những hành động phi vật chất, chẳng hạn việc biểu diễn một vở kịch, việc tổ chức một sinh hoạt nhằm tạo ra các tác động xã hội. Sản phẩm của dự án có thể được trình bày giữa các nhóm sinh viên, có thể được giới thiệu trong nhà trường, hay ngoài xã hội.
+ Bước 5: Đánh giá dự án:
Giáo viên và học đánh giá quá trình thực hiện và kết quả cũng như kinh nghiệm đạt được. Từ đó rút ra những kinh nghiệm cho việc thực hiện các dự án tiếp theo. Kết quả của dự án cũng có thể đuợc đánh giá từ bên ngoài. Hai giai đoạn cuối này cũng có thể được mô tả chung thành giai đoạn kết thúc dự án.
Ưu điểm: Các đặc điểm của DHDA đã thể hiện những ưu điểm của PPDH này. Có thể tóm tắt những ưu điểm cơ bản sau đây của dạy học theo dự án:
Gắn lý thuyết với thực hành, tư duy và hành động, nhà trường và xã hội Kích thích động cơ, hứng thú học tập của người học
Phát huy tính tự lực, tính trách nhiệm Phát triển khả năng sáng tạo
Rèn luyện năng lực giải quyết những vấn đề phức hợp Rèn luyện tính bền bỉ, kiên nhẫn
Rèn luyện năng lực cộng tác làm việc Phát triển năng lực đánh giá.
*Phương pháp thảo luận nhóm
Lớp học được chia thành từng nhóm nhỏ từ 4 đến 6 người. Tuỳ mục đích, yêu cầu của vấn đề học tập, các nhóm được phân chia ngẫu nhiên hay có chủ định, được duy trì ổn định hay thay đổi trong từng phần của tiết học, được giao cùng mộtnhiệm vụ hay những nhiệm vụ khác nhau.
Nhóm tự bầu nhóm trưởng nếu thấy cần. Trong nhóm có thể phân công mỗi người một phần việc. Trong nhóm nhỏ, mỗi thành viên đều phải làm việc tích cực, không thể ỷ lại vào một vài người hiểu biết và năng động hơn. Các thành viêntrong nhóm giúp đỡ nhau tìm hiểu vấn đề nêu ra trong không khí thi đua với các nhóm khác. Kết quả làm việc của mỗi nhóm sẽ đóng góp vào kết quả học tậpchung của cả lớp. Để trình bày kết quả làm việc của nhóm trước toàn lớp, nhóm có thể cử ra một đại diện hoặc phân công mỗi thành viên trình bày một phần nếunhiệm vụ giao cho nhóm là khá phức tạp.
Phương pháp hoạt động nhóm có thể tiến hành:
Làm việc chung cả lớp:
+ Nêu vấn đề, xác định nhiệm vụ nhận thức.
+ Tổ chức các nhóm, giao nhiệm vụ.
+ Hướng dẫn cách làm việc trong nhóm.
Làm việc theo nhóm.
+ Phân công trong nhóm.
+ Cá nhân làm việc độc lập rồi trao đổi hoặc tổ chức thảo luận trong nhóm
+ Cử đại diện hoặc phân công trình bày kết quả làm việc theo nhóm
Tổng kết trước lớp
+ Các nhóm lần lượt báo cáo kết quả.
+ Thảo luận chung.
+ Giáo viên tổng kết, đặt vấn đề tiếp theo trong bài hoặc đặt vấn đề cho bài tiếp theo.
Phương pháp thảo luận nhóm giúp các thành viên trong nhóm chia sẻ các băn khoăn, kinh nghiệm của bản thân, cùng nhau xây dựng nhận thức mới. Bằng cách nói ra những điều đang nghĩ, mỗi người có thể nhận rõ trình độ hiểu biết của mình về chủ đề nêu ra, thấy mình cần học hỏi thêm những gì. Bài học trở thành quá trình học hỏi lẫn nhau chứ không phải là sự tiếp nhận thụ động từ giáo viên.
Ngoài hai phương pháp dạy học dự án và thảo luận nhóm tôi còn kết hợp vớiphương pháp thuyết trình, vấn đáp,… để tiết học thêm hứng thú và hiệu quả hướngnghiệp cao hơn.
– Tổ chức hoạt động trải nghiệm
Dạy học trải nghiệm khác với dạy học thông thường, giáo viên phải thiết kế tạo ra các tình huống, các phương án để người học hoạt động, trải nghiệm.
Môn Công nghệ 12 là môn học ứng dụng,vận dụng các kiến thức vào giải quyết các vấn đề trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có những nội dung có ý nghĩa rất lớn đối với học sinh mà HS được tiếp xúc hàng ngày như:Mạch điện, mạng điện sản xuất, các linh kiện điện tử.. Do đó khi dạy học cần chọn các nội dung gần gũi với cuộc sống thường ngày.
*Các nguyên tắc vận dụng dạy học trải nghiệm trong giáo dục hướng nghiệp qua môn Công Nghệ lớp 12.
– Lựa chọn các phương pháp phải xuất phát từ nội dung, mục tiêu dạy học, kĩ năng hiện có của HS.
– Đảm bảo cho HS được hoạt động trải nghiệm trong điều kiện thuận lợi nhất từ đó tạo khuyến khích được sự tham gia hoạt động của HS.
*Quy trình vận dụng
Bước 1: Nghiên cứu nội dung, chương trình Công nghệ 12, xác định các bài học có thể tổ chức trải nghiệm để giáo dục hướng nghiệp
Bước 2: Xác định các nội dung cụ thể
Bước 3: Lựa chọn phương pháp phù hợp với từng nội dung

Bước 4: Thiết kế hoạt động
Bước 5: Kiểm nghiệm, đánh giá bài dạy
– Ứng dụng chuyển đổi số:
+Sử dụng các đường link các video bài dạy trên youtobe về các ngành nghề có liên quan đến môn Công Nghệ để tổ chức dạy học như: Khởi động, các bài tập luyện tập,vận dụng…
+Một số phần mềm phổ biến được sử dụng để hỗ trợ thiết kế, biên tập nội dung dạy học trong môn Công nghệ như: Video edit, Pait…
+ Việc lựa chọn thiết bị công nghệ và phần mềm để triển khai hoạt động học nhằm: tổ chức hoạt động học; triển khai nội dung học liệu số; thực hiện quá trình kiểm tra đánh giá, phản hồi và lưu trữ sản phẩm học tập. Sự lựa chọn này phụ thuộc nhiều vào hình thức dạy học trực tiếp hay trực tuyến và tính năng của các phần mềm.
– Với hình thức dạy học trực tiếp, việc tổ chức và quản lí lớp học được GV thực hiện ngay tại lớp học, trong giờ học. Vì vậy, việc ứng dụng CNTT trong tổ chức dạy học trực tiếp có thể chỉ bao gồm sử dụng CNTT triển khai nội dung dạy học và nội dung kiểm tra đánh giá dạng học liệu số, lưu trữ sản phẩm học tập và kết quả học tập. Chẳng hạn, có thể sử MS-PowerPoint,… để triển khai học liệu số; dùng các phần mềm như Kahoot,… để kiểm tra đánh giá; dùng các phần mềm như OneNote, Padlet,… để lưu trữ sản phẩm và kết quả học tập.
3. Thực trạng giáo dục hƣớng nghiệp thông qua môn Công Nghệ 12
3.1. Kết quả khảo sát thực trạng học sinh và giáo viên.
3.1.1. Về phía giáo viên

Như chúng ta đã biết, việc lựa chọn nghề nghiệp trong tương lai là hết sức quan trọng. Để giúp học sinh lựa chọn đúng đắn ngành học phù hợp với năng lực, sở thích và điều kiện cá nhân, thì công tác tư vấn định hướng nghề nghiệp hết sức quan trọng. Tuy nhiên, hoạt động tư vấn và giáo dục hướng nghiệp còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng được nhu cầu của học sinh.
Muốn làm tốt công tác tư vấn nghề nghiệp cho học sinh, chúng ta cần nghiên cưú, tìm hiểu nhu cầu, mong muốn của học sinh, để từ đó tổ chức các hoạt động tư vấn có nội dung, hình thức và thời điểm phù hợp nhằm giúp các em lựa chọn được một nghề đúng với bản thân.
Chúng tôi đã tiến hành khảo sát và kết quả khảo sát 15 thầy cô trong trường THPT dạy môn Vật lí-Công Nghệ trên địa bàn Huyện Quỳ Hợp:
❖ Với câu hỏi “Theo các thầy (cô) dạy học thông qua môn Công Nghệ lớp 12 có ý nghĩa gì?” được tổng hợp trong bảng kết quả sau:
Ý kiến Tỉ lệ %
Nâng cao hứng thú học tập 92%
Hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất cho HS 65%
Kết nối trường học với cộng đồng 73%
Tích hợp giáo dục hướng nghiệp 83%
Như vậy, đa số các thầy cô cho rằng ý nghĩa của việc dạy học dạy học thông qua môn Công Nghệ lớp 12 có thể “Nâng cao hứng thú học tập” (chiếm 92%) “Tích hợp giáo dục hướng nghiệp” (chiếm 83%). Từ bảng số liệu, có thể thấy rằng hầu hết các GV đã nhận thức được ý nghĩa quan trọng thông qua môn Công Nghệ lớp 12 nhằm khơi nguồn hứng thú học tập và định hướng nghề nghiệp cho học sinh.
❖ Với câu hỏi “Theo thầy (cô) dạy học thông môn Công Nghệ lớp 12 có thể giáo dục định hướng nghề nghiệp cho HS không?” được thể hiện theo biểu đồ sau:Kết quả của câu hỏi này là 83,2% GV có câu trả lời “Hoàn toàn có thể” chỉ có số ít GV trả lời “Không thể” (chiếm 16,8%).
Từ các kết quả trên có thể thấy các thầy (cô) có những đánh giá rất tích cực về việc tích hợp giáo dục nghề nghiệp cho HS thông qua môn Công Nghệ lớp 12. Đạt được mục đích tốt như “HS tìm được niềm đam mê, sở thích với lĩnh vực nào đó” và “HS biết thêm thông tin về nghề, yêu cầu, đặc điểm cơ bản của nghề thông qua môn học”.
3.1.2. Về phía học sinh
Kết quả khảo sát 138 học sinh lớp 12A1, 12A2, 12C1, 12C7 tại trường THPT Quỳ Hợp 3
❖ Cảm nhận của HS với câu hỏi “Em thấy việc học tập môn Công Nghệ lớp 12 có ý nghĩa như thế nào?” thu được kết quả như sau:

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

Theo dõi
Thông báo của
guest
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
Set your categories menu in Theme Settings -> Header -> Menu -> Mobile menu (categories)
Shopping cart

KẾT NỐI NGAY VỚI KIẾN EDU

Chúng tôi luôn sẵn sàng lắng nghe và đưa ra giải pháp phù hợp nhất cho vấn đề của bạn.

0886945229

Email

kienedu.com@gmail.com

Đây chỉ là bản XEM THỬ - khách hàng vui lòng chọn mua tài liệu và thanh toán để nhận bản đầy đủ

TẢI TÀI LIỆU

Bước 1: Chuyển phí tải tài liệu vào số tài khoản sau với nội dung: Mã tài liệu

Chủ TK: Ngô Thị Mai Lan

STK Agribank: 2904281013397 Copy
* (Nếu khách hàng sử dụng ngân hàng Agribank thì chuyển tiền vào STK Agribank để tránh bị lỗi treo giao dịch)
STK TPbank: 23665416789 Copy
tài khoản tpbank kienedu

Bước 2: Gửi ảnh chụp giao dịch vào Zalo kèm mã tài liệu để nhận tài liệu qua Zalo hoặc email

Nhắn tin tới Zalo Kiến Edu (nhấn vào đây để xác nhận và nhận tài liệu!)