SKKN Sử dụng hình ảnh động kết hợp phiếu học tập vào giảng dạy bài: nguyên lí làm việc động cơ đốt trong, công nghệ 11

Giá:
100.000 đ
Cấp học: THPT
Môn: Công nghệ
Lớp: 11
Bộ sách:
Lượt xem: 378
File:
TÀI LIỆU WORD
Số trang:
47
Lượt tải:
6

Sáng kiến kinh nghiệm SKKN Sử dụng hình ảnh động kết hợp phiếu học tập vào giảng dạy bài: nguyên lí làm việc động cơ đốt trong, công nghệ 11 triển khai gồm các biện pháp nổi bật sau:

– Vận dụng quy trình xây dựng phiếu học tập để xây dựng phiếu học tập trong dạy học và kiểm tra, đánh giá theo định hướng phát triển năng lực tự học – tự chủ cho HS trong dạy học công nghệ bài nguyên lý làm việc của động cơ đốt trong.
– Xây dựng được quy trình sử dụng phiếu học tập và vận dụng quy trình đó trong dạy học bài nguyên lý làm việc động cơ đốt trong.
– Xây dựng được bảng tiêu chí đánh giá kết quả khi sử dụng hình ảnh động, phiếu học tập để đánh giá năng lực nhận thức, tự học – tự chủ cho HS bài nguyên lý làm việc của động cơ đốt trong.

 

Mô tả sản phẩm

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lí do chọn đề tài
Đổi mới trong giáo dục đang là vấn đề tiên quyết đến chất lượng nguồn nhân lực cho đất nước trong thời kì mới. Trên con đường hội nhập và phát triển cùng thế giới, đất nước ta đã và đang từng bước đổi mới, áp dụng khoa học – kỹ thuật – công nghệ hiện đại vào trong mọi lĩnh vực của đời sống và sản xuất để thực hiện công cuộc ‘‘công nghiệp hoá, hiện đại hoá” đất nước. Do đó việc đào tạo ra nguồn nhân lực có tri thức và đạo đức đang là mục tiêu lớn của ngành giáo dục nước ta hiện nay. Cùng với mục tiêu chung của ngành giáo dục, mục tiêu của giáo dục cấp THPT đó là: “Giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động. Luật giáo dục đã quy định “Giáo dục THPT nhằm giúp học sinh cũng cố và phát triển những kết quả của giáo dục THCS, hoàn thiện học vấn phổ thông có những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện lựa chọn hướng phát triển và phát huy năng lực cá nhân, tiếp tục học Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động”. Môn Công nghệ được Bộ giáo dục và Đào tạo biên soạn trên tinh thần đổi mới, đảm bảo tính phổ thông, cơ bản, hiện đại và phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Nó cùng với các môn học khác góp phần quan trọng vào việc tạo nền tảng ban đầu để đào tạo con người phát triển toàn diện.
Công nghệ là môn học có kiến thức về ứng dụng của khoa học kĩ thuật. Vì vậy nội dung mang tính trừu tượng, gắn liền với đời sống thưc tiễn hàng ngày. Trong đó phần động cơ đốt trong là nội dung được biên soạn giảng dạy với thời lượng lớn bởi vai trò quan trọng và được sử dụng phổ biến trong nhiều lĩnh vực như : Nông nghiệp, công nghiệp, ngư nghiệp, giao thông vận tải, quân sự… Để giúp học sinh có thể hiểu và ghi nhớ sâu sắc hơn về nguyên lí làm việc của động cơ đốt trong đòi hỏi người giáo viên phải vận dụng linh hoạt các phương pháp và các phương tiện dạy học tránh việc học sinh ghi nhớ kiến thức một cách máy móc. Đồng thời kích thích tinh thần hợp tác, tự học, tự nghiên cứu của học sinh.
Nhờ sự quan tâm của xã hội, nhà trường và phụ huynh học sinh mà tất cả các lớp học của trường chúng tôi đã được trang bị đầy đủ ti vi thông minh kết nối internet đáp ứng được nhu cầu trong dạy học của thời đại 4.0. Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào trong dạy học không chỉ giúp các e lĩnh hội tri thức một cách nhẹ nhàng, chủ động, mà còn làm cho các e yêu thích môn công nghệ hơn. Để thực hiện tốt giờ dạy theo tinh thần đổi mới, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và hứng thú của học sinh. Bản thân chúng tôi đã không ngừng đổi mới về tư duy, nhận thức từ khâu soạn giáo án (Thiết kế bài học) cho đến cách sử dụng thiết bị dạy học, lập phiếu điều tra để nắm bắt tình hình học tập của học sinh, từ đó điều chỉnh cho phù hợp với thực tế nhà trường và đối tượng học sinh. Đề tài là sự phối
kết hợp giữa dạy học hiện đại với dạy học truyền thống nhằm mang lại hiệu quả học tập cao nhất.
Xuất phát từ những lí do trên chúng tôi chọn đề tài : “Sử dụng hình ảnh động kết hợp phiếu học tập vào giảng dạy bài: nguyên lí làm việc động cơ đốt trong, Công nghệ 11”.
2. Mục tiêu của đề tài
Ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học bằng cách sử dụng hình ảnh động kết hợp phiếu học tập trong dạy học môn công nghệ 11, bài nguyên lý làm việc của động cơ đốt trong nhằm phát triển năng lực “tự học – tự chủ, giao tiếp và hợp tác” cho HS cấp THPT.
3. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
3.1 Phạm vi nghiên cứu:
– Đề tài áp dụng đối với học sinh lớp 11 THPT trong bài 21: Nguyên lý làm việc của động cơ đốt trong
– Giáo viên dùng hình ảnh động giúp học sinh nắm kiến thức về nguyên lí làm việc của động cơ đốt trong, sau đó học sinh tự khái quát, tổng hợp, khắc sâu kiến thức bằng phiếu học tập dưới sự hướng dẫn của giáo viên.
3.2 Đối tượng nghiên cứu:
– Học sinh lớp 11 trường THPT Quỳnh Lưu 2
4. Phương pháp nghiên cứu
– Các phương pháp nghiên cứu lý luận:
+ Nghiên cứu các tài liệu về tâm lí học, giáo dục học, lí luận dạy học giáo dục phổ thông, lí luận về dạy học tích cực, văn bản về đổi mới giáo dục, các bài báo, tạp chí có liên quan nhằm xây dựng cơ sở lí luận của đề tài.
+ Nghiên cứu chương trình và sách giáo khoa và sách giáo viên môn Công nghệ lớp 11 để soạn thảo tiến trình dạy học theo định hướng nghiên cứu.
– Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
+ Tiến hành điều tra bằng phiếu hỏi, quan sát, bài kiểm tra học sinh ở lớp được thực nghiệm trong trường THPT Quỳnh Lưu 2.
+ Tiến hành thực nghiệm sư phạm trên đối tượng là học sinh lớp 11 tại trường THPT Quỳnh Lưu 2 thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo Nghệ An.
+ Sử dụng thống kê toán học để phân tích kết quả thực nghiệm sư phạm từ đó khẳng định hiệu quả của việc áp dụng đề tài.

5. Ý nghĩa, đóng góp mới của đề tài
– Đề tài có ý nghĩa giúp học sinh nắm vững các kiến thức về phần nguyên lý làm việc của động cơ đốt trong; phát triển các năng lực chung và các năng lực chuyên biệt, nâng cao ý thức tự học, tự nghiên cứu đồng thời giúp các em có thể vận dụng các kiến thức đã được nghiên cứu để giải quyết các bài tập, các tình huống thực tiễn gặp trong cuộc sống.
– Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận về năng lực, năng lực tự học – tự chủ và bản chất, vai trò, ý nghĩa của phiếu học tập trong dạy học nói chung và trong dạy học Công nghệ nói riêng.
– Vận dụng quy trình xây dựng phiếu học tập để xây dựng phiếu học tập trong dạy học và kiểm tra, đánh giá theo định hướng phát triển năng lực tự học – tự chủ cho HS trong dạy học công nghệ bài nguyên lý làm việc của động cơ đốt trong.
– Xây dựng được quy trình sử dụng phiếu học tập và vận dụng quy trình đó trong dạy học bài nguyên lý làm việc động cơ đốt trong.
– Xây dựng được bảng tiêu chí đánh giá kết quả khi sử dụng hình ảnh động, phiếu học tập để đánh giá năng lực nhận thức, tự học – tự chủ cho HS bài nguyên lý làm việc của động cơ đốt trong.

PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Chương I: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc sử dụng hình ảnh động, phiếu học tập trong dạy học Công nghệ ở trường THPH
I. Cơ sở lí luận
1. Những phương pháp dạy học hiện đại hiện nay cho giáo viên.
1.1 Phương pháp dạy học hiện đại là gì?
Phương pháp dạy học hiện đại còn được gọi là phương pháp dạy học tích cực. Phương pháp này ra đời vào thế kỷ 20 và có nguồn gốc từ các nước phương Tây. Trong những năm gần đây, phương pháp dạy học này đang ngày càng ảnh hưởng rộng rãi đến các nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều người xa lạ đối với phương pháp này và chưa hiểu về cách dạy của nó.
Như chúng ta đã biết phương pháp dạy học truyền thống là phương pháp được cha ông chúng ta truyền lại qua nhiều thế hệ, phương pháp này lấy người dạy học là trung tâm. Còn đối với phương pháp dạy học hiện đại lại khác hoàn toàn, đây phương pháp dạy cho học sinh, sinh viên chủ động trong lối suy nghĩ, tư duy và hành động.
Trong phương pháp dạy học hiện đại người thầy chỉ giữ vai trò định hướng, đưa ra những gợi ý, hướng dẫn tìm kiếm tài liệu, tổ chức các buổi thảo luận, tranh luận cho học viên của mình. Qua đó, học sinh, sinh viên có thể chủ động trong việc tìm kiếm thông tin, tích lũy kinh nghiệm, rèn luyện khả năng phán đoán và tự tin hơn qua mỗi bài học.
1.2 Ưu điểm và nhược điểm của cách dạy học hiện đại * Ưu điểm:
– Do cách dạy học hiện đại rất chú trọng đến kỹ năng thực hành, nên học viên có khả năng linh hoạt trong việc xử lý các tình huống trong thực tiễn.
– Rèn luyện cho học sinh, sinh viên tính chủ động trong lối suy nghĩ và tư duy khi học tập.
– Khả năng tự tin được nâng cao qua mỗi bài thảo luận và phản biện. * Nhược điểm
– Trong phương pháp dạy học này sẽ cắt giảm các bài thuyết trình, giảng giải mà chỉ chú trọng vào hướng dẫn cách làm, suy nghĩ, tăng khả năng chủ động cho học sinh, sinh viên. Do đó, nếu học sinh, sinh viên không tập trung và theo sát bài giảng của giáo viên sẽ không hiểu được bài.
– Yêu cầu về cơ sở vật chất và phương tiện dạy học của phương pháp dạy học hiện đại cần chú trọng hơn ở các cơ sở giáo dục hiện nay. Cho nên nhiều trường học, giáo viên ở Việt Nam hiện nay vẫn không áp dụng được phương pháp này do không đáp ứng được các yêu cầu trên.
1.3. Những đặc trưng cơ bản của phương pháp dạy học hiện đại
– Lồng ghép bài học vào các hoạt động thực tế: Việc dạy học thông qua các hoạt động thực tế sẽ giúp các bạn học viên tiếp nhận kiến thức nhanh hơn. Qua đó, giáo viên không cần phải giảng dạy chi tiết, áp đặt các kiến thức đối với học sinh, sinh viên.
– Tự giác học tập: Phương pháp giảng dạy hiện đại mang lại rất nhiều ưu điểm trong học tập. Do đó, phương pháp này đòi hỏi người học phải tự giác tìm kiếm tài liệu, tự suy nghĩ, khám phá và rút ra kinh nghiệm,… Ngoài ra, học viên trước khi học tiết học áp dụng phương pháp này thì luôn phải chuẩn bị trước bài tập ở nhà nếu không nếu sẽ không thể theo kịp bài dạy.
– Phối hợp giữa học nhóm và tự học: Học viên vừa phải tham gia các hoạt động học nhóm để tăng khả năng giao tiếp, tính chủ động, tự giác và tạo nguồn động lực học tập khi học nhóm. Đồng thời, các bạn cũng cần có những buổi tự học để tập hợp tất cả những kiến thức, tập trung suy nghĩ.
– Giáo viên và học viên cùng nhau đánh giá: Nếu dạy học theo phương pháp truyền thống thì chỉ có giáo viên mới cần đưa ra những nhận xét đánh giá của mình đối với học viên. Còn đối với phương pháp dạy học hiện đại thì giáo viên và người học cùng đưa ra đánh giá của mình. Việc cùng nhau đưa ra ý kiến đánh giá, nhận xét sẽ dễ dàng tìm ra các biện pháp khắc phục, các chỗ còn thiếu sót trong bài giảng của giáo viên.
1.4. Một số phương pháp dạy học hiện đại hiện nay
1.4.1. Phương pháp hỏi – đáp
Đây là phương pháp giáo viên sẽ đưa ra các câu hỏi để học sinh trả lời hoặc tranh luận, đưa ra ý kiến phản bác. Từ đó, giúp các bạn có thể rút ra được bài học. Bên cạnh đó, phương pháp hỏi – đáp còn đòi hỏi các bạn học viên phải ghi nhớ được kiến thức, nội dung bài học, chuẩn bị trước ở nhà.
Tạo và giải quyết các tình huống thực tế
Ngày nay, xã hội ngày càng phát triển, rất nhiều các tình huống, các vấn đề chỉ được giải quyết bằng những cuộc thảo luận hoặc tranh luận. Do đó, phương pháp tạo và giải quyết các tình huống dựa vào tình huống thực tế sẽ giúp các học sinh, sinh viên không bỡ ngỡ, bất ngờ khi bắt gặp, đồng thời nắm được các cách giải quyết chính xác nhất.
1.4.2. Trở thành diễn viên
Đối với phương pháp dạy học hiện đại này, học sinh sẽ được đóng vai thành một số nhân vật trong các tình huống được giáo viên tạo ra. Từ đó, các bạn sẽ được rèn luyện thành thạo các kỹ năng ứng xử, giải quyết tình huống và kiềm chế cảm xúc. Ngoài ra, phương pháp này sẽ tạo sự mới lạ, thích thú cho các bạn học viên dễ dàng tiếp thu các kiến thức mà giáo viên muốn truyền đạt.
1.4.3. Sử dụng bộ não
Trong phương pháp này, giáo viên sẽ giúp học sinh, sinh viên kích thích não bộ, nảy sinh ra được nhiều ý tưởng, sáng tạo thông qua các bài dạy. Để có thể thực hiện tốt phương pháp này, giáo viên sẽ đưa ra các biện pháp như khuyến khích học viên phát biểu, tổ chức các buổi vui chơi học tập theo nhóm.
1.4.4. Sử dụng công nghệ vào giảng dạy
Sự bùng nổ của Công nghệ thông tin (CNTT) nói riêng và khoa học Công nghệ nói chung đã tác động mạnh mẽ đến tất cả các mặt của đời sống xã hội. Trong bối cảnh đó, nếu muốn áp dụng phương pháp dạy học hiện đại thì chúng ta nhất thiết phải đổi mới phương pháp theo hướng ứng dụng CNTT trong dạy học và các thiết bị giảng bài.
Qua đó giúp giáo viên tiết kiệm được thời gian lên lớp, giúp phát triển năng lực quan sát, năng lực tư duy của học viên. Bên cạnh đó, đây được xem là công cụ đắc lực để hỗ trợ cho việc xây dựng các kiến thức mới và phương tiện hữu hiệu để khám phá kiến thức nhằm hỗ trợ cho quá trình học tập.
Đối với bộ môn công nghệ ở THPT (bộ môn ứng dụng thành tựu của ngành khoa học kĩ thuật) nội dung học bao gồm cả lí thuyết và thực hành. Trong đó phần lí thuyết là những kiến thức trừu tượng đòi hỏi học sinh phải hình dung, tưởng tượng, tư duy cao. Phần thực hành thì gắn với thực tiễn đời sống hàng ngày đòi hỏi học sinh phải được quan sát, thực tế. Tuy nhiên việc quan sát thực tế đối với học sinh THPT là rất hạn chế. Nếu như giáo viên chỉ dạy những gì có trong sách thì học sinh chỉ ghi nhớ mà ko vận dụng được vào thực tiễn. Điều này hoàn toàn ko đáp ứng mục tiêu “học công nghệ để học tập, làm việc hiệu quả trong môi trường công nghệ tại gia đình, nhà trường, cộng đồng”. Vì vậy, việc ứng dụng công nghệ thông có vai trò quan trọng. Ví dụ: khi dạy phần vẽ kĩ thuật giáo viên có thể trình chiếu hình ảnh vật thể, hình chiếu, mặt cắt….. hoặc sử dụng phần mềm để xoay hình, cắt hình. Hoặc khi dạy nguyên lý làm việc của động cơ đốt trong việc quan sát thực tế là không thể, thay vì sử dụng mô hình, giáo viên sẽ sử dụng hình ảnh động giúp học sinh trực quan, kiến thức trở nên sinh động, sát thực hơn.
2. Dạy học bằng trực quan.
Hứng thú là một thuộc tính tâm lí – nhân cách của con người. Trong học tập hứng thú là yếu tố quan trọng thôi thúc học sinh nắm bắt tri thức một cách nhanh hơn, sâu sắc hơn. Để gây được hứng thú học tập cho học sinh người giáo viên nên dẫn dắt học sinh đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn.
2.1. Bản chất của phương pháp giáo dục bằng trực quan
Phương pháp giáo dục trực quan hay còn gọi là dạy học trực quan, có nhiều tài liệu gọi đó là trình bày trực quan. PPDH có sử dụng phương tiện trực quan như các phương tiện kỹ thuật dạy học trong, trước và sau khi sử dụng các tài liệu mới hay khi ôn tập để củng cố, thậm chí là hệ thống hóa kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo.
* Phương pháp dạy học trực quan được thể hiện dưới các hình thức:
– Việc trình bày các thí nghiệm thực tế, các chiếu đèn, chiếu phim chiếu nhằm đem lại cái nhìn rõ nét, sinh động. Những thiết bị kỹ thuật, phim điện ảnh, video. Trình bày các mô hình đại diện cho hiện thức một cách khách quan nhất và nó cũng được lựa chọn cẩn thận để phù hợp trong môi trường sư phạm. Đó chính là cơ sở cho quá trình nhận thức và lĩnh hội bài giảng tốt hơn.
– Nó còn là những minh họa trình bày bằng đồ dùng trực quan có tính chất minh họa như bản đồ, tranh ảnh, hình vẽ trên bảng ….
2.2 Ưu điểm của phương pháp dạy học trực quan
– Phương pháp dạy học trực quan ở THPT và các cấp học khác đều mang lại những ưu điển lớn. Đặc biệt đó là sự tiếp thu có tiến bộ của các học sinh, giúp bài giảng thêm sôi động, hấp dẫn.
– Với cách dạy học trực quan, các đồ dùng phục vụ cho việc học được đặc biệt quan tâm, nhờ đồ dùng mà các học sinh có thể nhớ nhanh, nhớ lâu và nhớ rất kỹ bài giảng. Bằng hình ảnh trực quan sống động cùng những kiến thức về quá trình hoạt động của động cơ đốt trong, học sinh như được quan sát quá trình diễn ra bên trong xi lanh khi động cơ làm việc. Các hình ảnh tuy không cần sử dụng tới chữ viết cũng được lưu giữ lại vững chắc trong trí nhớ, nó chính là hình ảnh thu được từ trực quan. Chính bởi vậy, học theo phương pháp trực quan góp phần tạo nên biểu tượng. Bên cạnh đó, đồ dùng trong các tiết học trực quan còn giúp phát triển khả năng quan sát cũng như tư duy và trí tưởng tượng cùng khả năng ngôn ngữ của học sinh.
– Phương pháp dạy học trực quan là một phương pháp học sử dụng trực quan, trực quan là nguyên tắc cơ bản của lý luận giúp học sinh có thể hình thành khái niệm dựa trên cơ sở trực tiếp quan sát các vật, đồ dùng qua minh họa bằng tranh, ảnh, video. Đó chính là chỗ dựa giúp học sinh hiểu bản chất của kiến thức, là một phương tiện giúp các em hình thành khái niệm, nắm vững được các quy luật của sự phát triển xã hội.
2.3 . Hạn chế của phương pháp dạy học trực quan
Tuy có nhiều ưu điểm nhưng phương pháp sử dụng đồ dùng trong giáo dục trực quan lại có những hạn chế nhất định. Những mặt hạn chế đó được kể tới như sau:
– Với các hình ảnh, video, phim ảnh đều là những thứ gây chú ý, nếu không biết cách sử dụng phù hợp sẽ khiến các em học sinh phân tán, giản sự chú ý vào nội dung chính. Điều này khiến các em không nắm được vấn đề trong bài học.
– Đây là phương pháp dạy học đòi hỏi nhiều thời gian và các giáo viên lại cần cân nhắc, tính toán để phù hợp với thời lượng dạy.
– Các hình ảnh, video, phim ảnh sẽ có cả những chi tiết ngoài lề, nhỏ lẻ và không liên quan tới bài học. Nếu không định hướng tốt các em học sinh có thể chỉ chú ý tới các chi tiết đó.
2.4. Quy trình thực hiện Phương pháp dạy học trực quan
Để có những tiết học trực quan bổ ích cũng như hiệu quả, tạo hứng thú cho các em học sinh, giáo viên cần quan tâm tới quy trình thực hiện.
– Bước đầu tiên, các giáo viên cần chuẩn bị hình ảnh, video, băng đĩa, phim …..về chủ đề bài học.
– Bước tiếp theo các giáo viên treo các tranh ảnh, đồ dùng minh họa, các vật dụng thí nghiệm hay những thiết bị….. Sau đó, giáo viên cần đưa ra định hướng quan sát cho học sinh.
– Trình bày chi tiết các nội dung trong bản đồ, sơ đồ và hình ảnh, với video cần chi tiết rõ nét hơn. Với các dụng cụ thí nghiệm giáo viên tiến hành thí nghiệm và trình chiếu phim ảnh cho học sinh quan sát.
– Giáo viên yêu cầu một vài học sinh trình bày lại nội dung bức hình, nội dung đoạn video hay cách thức tiến hành thí nghiệm. Từ đó các em học được những gì.
– Giáo viên soạn sẵn những câu hỏi nhằm giúp các em học sinh vận dụng những gì được thấy được xem để trả lời từ đó hiểu và nắm bài rõ hơn
* Có rất nhiều phương pháp dạy học trực quan và tùy vào mục đích ta chia các loại ra làm:
– Căn cứ theo mức độ tổ chức quan sát ta có thể chia ra là quan sát có sự bố trí, sắp xếp của giáo viên hoặc quan sát tự nhiên.
– Căn cứ theo cách thức quan sát ta chia làm quan sát gián tiếp và quan sát trực tiếp
– Căn cứ theo phạm vi quan sát ta chia làm quan sát các khía cạnh và quan sát toàn diện.
– Căn cứ theo thời gian ta chia quan sát dài hạn và ngắn hạn.

TÀI LIỆU LIÊN QUAN