Search
Close this search box.

SKKN Vận dụng phương pháp dạy Học vần lớp 1 theo quan điểm tích hợp

4.5/5

Giá:

30.000 đ
Cấp học: Tiểu học
Môn: Tiếng việt
Lớp: 1
Bộ sách:
Lượt xem: 735
File:
TÀI LIỆU WORD
Số trang:
29
Lượt tải:

11

Sáng kiến kinh nghiệm “SKKN Vận dụng phương pháp dạy Học vần lớp 1 theo quan điểm tích hợp” triển khai gồm các biện pháp nổi bật sau:

Quy trình xây dựng bài học tích hợp
+ Bước 1: Rà soát chương trình, sách giáo khoa để tìm ra các nội dung dạy học liên quan đến nhau hoặc liên quan đến một vấn đề của đời sống cần giáo dục cho học sinh.
+ Bước 2: Dựa trên kết quả bước 1 để xác định bài học chủ đề tích hợp bao gồm môn học và tên bài học.
+ Bước 3: Xác định mục tiêu của bài học / chuyên đề tích hợp, bao gồm:
-Kiến thức.
-Kĩ năng.
-Thái độ.
-Định hướng năng lực.
+ Bước 4: Dự kiến thời lượng (số tiết) cho bài học tích hợp và thời điểm thực hiện bài học tích họp.
+ Bưóc 5: Xây dựng nội dung cùa bài học tích hợp. Căn cứ vào mục tiêu, thời gian dự kiến để xây dựng nội dung dạy học tích họp.
+ Bước 6: Xây dựng kế hoạch bài học tích hợp bao gồm cả kế hoạch hoặc công cụ đánh giá.

Mô tả sản phẩm

PHẦN MỞ ĐẦU
LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1/Xuất phát từ yêu cầu đổi mới giáo dục
Trong sự nghiệp cách mạng, Đảng ta đặc biệt coi trọng vị trí con người, coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển và: “Muốn tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá thắng lợi, phải phát triển mạnh giáo dục – đào tạo, phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh, bền vững”(Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành TW Đảng khoá VIII)
Chính vì vậy, ngay từ bậc Tiểu học các nhà trường cần quan tâm đổi mới phương pháp dạy học sao cho phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi, bước đầu rèn luyện kĩ năng tư duy độc lập, sáng tạo của học sinh.
Để đáp ứng nhu cầu giáo dục, các môn học ở Tiểu học dần chú trọng hình thành rèn luyện cho học sinh các kĩ năng học tập. Cùng với các môn học khác, môn Tiếng Việt chú trọng hình thành rèn luyện cho học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng Việt để phục vụ cho hoạt động học tập và giao tiếp hàng ngày. Quan điểm tích hợp là một trong các quan điểm biên soạn chương trình SGK Tiếng Việt mới nhằm phát huy tính tích cực của các em.
Thông qua các hình thức luyện tập trong SGK Tiếng Việt 1 và hướng dẫn các hoạt động dạy, học trong SGV Tiếng Việt 1, cả hai loại sách này sẽ tạo điều kiện để giáo viên và học sinh thực hiện phương pháp tích cực hoá hoạt động của người học, trong đó giáo viên đóng vai trò là người tổ chức hoạt động của học sinh; mỗi học sinh đều được hoạt động, đều được bộc lộ mình và được phát triển. Đây là giải pháp tổng thể để thực hiện mục tiêu trang bị kiến thức, rèn luyện kĩ năng, hoàn thiện nhân cách cho các em.
Thực hiện quan điểm tích hợp, SGK Tiếng Việt 1 không dạy kiến thức lí thuyết như là cái có sẵn mà tổ chức hoạt động để học sinh nắm được kiến thức sơ giản và kĩ năng sử dụng tiếng việt tốt. SGK cũng trú trọng tổ chức các hoạt động tự nhiên, hoạt động ngoại khóa để rèn kĩ năng sử dụng Tiếng Việt cho học sinh.
Đặc biệt, các hình thức tổ chức hoạt động, trò chơi cho học sinh được hướng dẫn rất cẩn thận trong SGK. Từ khi bộ SGK Tiếng Việt Tiểu học mới được đưa vào giảng dạy, phương pháp tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh bước đầu đã tạo ra những chuyển biến rất rõ rệt trong các nhà trường Tiểu học ở Việt Nam.
2/Thực tiễn dạy Học vần ở địa phương
Trong thực tiễn, khi thực hiện SGK Tiếng Việt được biên soạn theo chương trình Tiểu học mới, giáo viên gặp nhiều thuận lợi nhưng cũng không ít khó khăn. Cụ thể là:
Thuận lợi: Không chỉ dạy Tiếng Việt mà còn tích hợp các kiến thức, kĩ năng các môn học khác có ngữ liệu thích hợp với môn Tiếng Việt được coi là những tình huống để rèn luyện kĩ năng sử dụng Tiếng Việt. Thông qua việc thảo luận nhóm về nội dung của bài học, học sinh được tăng thêm vốn từ, học được

 

nhiều cách quy tắc sử dụng tiếng Việt theo các phong cách chức năng đã được dùng để viết ra chúng, do đó có nhiều cơ hội để ứng xử bằng tiếng Việt thích hợp với những ngữ cảnh khác nhau.
Khó khăn: Quỹ thời gian hạn hẹp. Với 35- 40 phút/tiết, giáo viên đã giải quyết xong phần kiến thức, kĩ năng của nội dung còn phải tăng thêm phần tích hợp, lồng ghép. Thao tác của giáo viên còn lúng túng, chưa nhuần nhuyễn, thiếu tự tin, còn gượng ép nên dẫn đến cách hướng dẫn học sinh hoạt động chưa tích cực.
Nhiều giáo viên còn sa đà vào nội dung giáo dục tích hợp nên ảnh hưởng đến thời gian giảng dạy.
Việc thực hiện quan điểm đổi mới trong từng môn học, từng bài học cụ thể là vấn đề cần được nghiên cứu và bàn bạc và làm sáng tỏ.
Vì vậy tôi đã tập trung nghiên cứu đề tài: “Vận dụng phương pháp dạy Học vần lớp 1 theo quan điểm tích hợp” để góp phần giáo dục toàn diện cho học sinh.
MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ
1/Mục đích:
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề đổi mới phương pháp và trên thực tiễn dạy học phân môn Học vần, xây dựng phương pháp dạy học tối ưu (cho cả người dạy và người học) nhằm mục đích nâng cao hiệu quả trong từng giờ học.
Thiết kế một số bài dạy Học vần lớp 1 theo quan điểm tích hợp giúp cho người giáo viên Tiểu học có một tài liệu tham khảo trong quá trình giảng dạy.
Định hướng cho người giáo viên Tiểu học thực hiện đổi mới ở các giờ học cụ
thể.
Hình thành và làm quen cho học sinh với cách thức tự học, tự lập, tự sáng tạo.
2/Nhiệm vụ:
Nghiên cứu vấn đề đổi mới dạy học hiện nay trong trường Tiểu học.
Nghiên cứu thực tiễn dạy Học vần ở lớp 1.
Đề xuất phương án dạy học giờ Học vần lớp 1 theo quan điểm tích hợp.
Thực nghiệm và rút ra kết luận sư phạm.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
1/Nhóm phương pháp lí luận
Nghiên cứu những vấn đề lí luận có liên quan đến việc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay.
Nghiên cứu những vấn đề ngôn ngữ học, tâm lí giáo dục và các khoa học có liên quan tới việc dạy học các bài Học vần lớp 1.
2/Nhóm phương pháp thực tiễn:
Nghiên cứu nội dung chương trình SGK, SGV, sách tham khảo
Trực tiếp giảng dạy nhiều năm lớp 1 cũng như dự giờ phân môn Học vần lớp 1 của các bạn đồng nghiệp để tìm hiểu thực tế dạy học Học vần ở khối lớp này.
Khảo sát thực trạng dạy Học vần ở khối lớp 1.

3/Nhóm phương pháp bổ trợ
Thống kê các kết quả dạy học.
Xử lí và khái quát hoá các kết quả thực nghiệm.
ĐỐI TƯỢNG VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu : 50 Học sinh lớp 1
Thời gian nghiên cứu: Bắt đầu từ tháng

PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I:
NHỮNG CƠ SỞ CỦA VIỆC: “ VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC VẦN LỚP 1 THEO QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP ”
I/CƠ SỞ LÍ LUẬN
Cơ sở tâm lí
/Đi học lớp 1 là một bước ngoặt quan trọng trong đời sống của trẻ.
Từ đây hoạt động chủ đạo của trẻ, hoạt động vui chơi ở giai đoạn mẫu giáo đã chuyển sang một loại hoạt động mới, hoạt động học tập với đầy đủ ý nghĩa của từ này. Các em sẽ trở thành những “cậu học sinh, những cô học sinh”
Vì vậy giáo viên cần phải nắm chắc đặc điểm này để giúp học sinh “chuyển giai đoạn ”được tốt.

/Sự hình thành hoạt động có ý thức ở trẻ lớp 1
Các nhà khoa học đã chỉ ra rằng về mặt sinh lí ở trẻ 6 – 7 tuổi, khối lượng bộ não đã đạt tới 90% khối lượng bộ não người lớn. Sự chín muồi về mặt sinh lí cùng với sự phát triển của những quá trình tâm lí (như cảm giác, tri giác, trí nhớ, tư duy,…) đã tạo điều kiện để các em có thể thực hiện một hoạt động mới, hoạt động học tập. Chơi là một hoạt động mang tính kế hoạch có mục đích đó là một hoạt động có ý thức .

/Đặc điểm của hoạt động tư duy ở trẻ lớp 1
Trên cơ sở ý thức đã hình thành khả năng tư duy tín hiệu ở trẻ cũng phát triển. Chính khả năng tư duy bằng tín hiệu là cơ sở để các em lĩnh hội chữ viết, là những tín hiệu thay thế ngữ âm. Ở độ tuổi 6 – 7 tuổi khả năng phân tích, tổng hợp ở trẻ khá hoàn chỉnh, từ đó cho phép các em có khả năng tách từ thành tiếng, thành âm.

/Năng lực vận động của trẻ ở lứa tuổi lớp 1
Ở lứa tuổi 6 – 7 tuổi năng lực vận động của trẻ cũng đạt được những bước phát triển đáng kể. Các em có thể chủ động điều khiển các hoạt động của cơ thể như tay, mắt, đầu cổ, có thể phối hợp nhiều động tác khác nhau. Đây cũng là điều kiện cần thiết để các em có đủ điều kiện đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi cao hơn là: học viết – một hoạt động đòi hỏi phải chủ động trong các hoạt động của cánh tay, ngón tay, bàn tay trong sự phối hợp với mắt nhìn, tai nghe, tay viết.
Bằng hình thức đàm thoại sinh động, bằng việc kể chuyện, ngâm thơ, quan sát vật thật… giáo viên sẽ tạo được những tình huống ngôn ngữ làm cho hoạt động đọc và viết có ý nghĩa, từ đó góp phần nâng cao khả năng tư duy, đạt được hiệu quả dạy học vần cao.

2/Cơ sở ngôn ngữ học của việc dạy học vần
/Những đặc điểm ngữ âm của tiếng Việt và dạy Tiếng Việt ở lớp 1
Đặc trưng loại hình của Tiếng Việt thể hiện ở chỗ Tiếng Việt là thứ ngôn ngữ đơn lập. Đặc trưng này được thể hiện ở tất cả các ngữ âm, ngữ nghĩa, ngữ pháp nhưng thể hiện rõ nhất là mặt ngữ âm.
Xét từ góc độ ngữ âm Tiếng Việt là thứ ngôn ngữ có nhiều thanh điệu và độc lập mang nghĩa. Vì thế trong chuỗi lời nói, ranh giới giữa các âm tiết được thể hiện rõ ràng, các âm tiết không bị nối dính vào nhau như trong các ngôn ngữ biến hình. Đây là điều kiện thuận lợi cho quá trình dạy âm, dạy chữ.
Về cấu tạo âm tiết Tiếng Việt là một tổ hợp âm thanh có tổ chức chặt chẽ. Các yếu tố cấu tạo âm tiết kết hợp với nhau theo từng mức độ lỏng, chặt khác nhau. Phụ âm đầu, vần và thanh kết hợp lỏng, còn các yếu tố của vần kết hợp với nhau khá chặt chẽ. Vần có vai trò rất quan trọng trong Tiếng Việt. m tiết có thể không có phụ âm đầu nhưng không thể thiếu phần vần. Người Việt ưa thích nói vần và nhạy cảm với vần. Điều này được thể hiện rõ trong vần thơ và cách nói lái của người Việt.
/Cơ chế của việc đọc, viết .
Trong giao tiếp bằng ngôn ngữ người ta nảy sinh ra một ý, rồi dùng ngôn ngữ để lồng ý đó và phát triển thành lời. Khi tiếp nhận lời nói, người nghe lại rút ở trong từ, trong câu nghe được ý của người nói để biết người ta muốn nói gì. Để chuyển ý thành lời người ta phải sử dụng một mã chung của xã hội là ngôn ngữ (bao gồm các từ và những quy tắc ghép từ thành câu) lựa chọn sắp xếp các yếu tố của mã đó trở thành lời cụ thể. Công việc vận dụng mã để lồng ý mà tạo lên lời như thế gọi là sự mã hoá. Ngược lại khi chuyển lời thành ý từ những câu, nghe được, người nghe phải rút ra nội dung chứa đựng bên trong lời nói. Công việc đó chính là sự giải mã.
Quy trình viết :
ý ⭢ mã hoá 1 ⭢ lời nói ⭢ mã hóa 2 ⭢ văn bản viết ( mã 1) (văn bản nói) (mã hoá 2)
Quy trình đọc:
Văn bản viết ⭢ Giải mã 2 ⭢ lời nói ⭢ Giải mã 1 ⭢ ý (mã 2) (văn bản nói ) (mã 1)
Mục đích của học vần là là trang bị cho học sinh bộ mã 2 (chữ viết) và kỹ năng chuyển mã (từ mã 1 sang mã 2 hoặc ngược lại, từ mã 2 sang mã 1). Cho nên trong 2 quy trình viết và đọc, đã phân tích, trọng tâm dồn chú ý là các khâu có liên quan đến mã 2, tức là mã hoá (viết) và giải mã 2 (đọc).
/ Đặc điểm của chữ viết Tiếng Việt .
Chữ viết Tiếng Việt là chữ ghi âm. Nói chung đó là một hệ thống chữ viết tiến bộ. Nguyên tắc cơ bản của kiểu chữ này là nguyên tắc ngữ âm học. Về cơ bản, nguyên tắc đảm bảo sự tương ứng một – một giữa âm và chữ, tức là mỗi âm chỉ ghi bằng một chữ, mỗi chữ chỉ có một cách phát âm mà thôi. Ngoài ra về mặt

 

chữ viết, các âm Tiếng Việt đều rời, có cấu tạo đơn giản nên việc đánh vần không phức tạp lắm.
Dạy học vần, dạy viết (nhất là những tiết đầu) có một số khó khăn nhất định do nguyên nhân sau:
Cấu tạo của hệ thống chữ Tiếng Việt còn tồn tại một số bất hợp lí như một âm ghi bằng nhiều con chữ (âm /k/ ghi bằng ba con chữ c, k, q…) hoặc một chữ dùng để ghi nhiều âm (chữ ghi âm /z/ trong từ gì và già). Tình hình đó, lúc đầu dễ làm cho các em lẫn lộn khi viết, Ví dụ: gì đọc thành ghì , kẻ đọc thành cẻ.
Chữ viết theo hệ thống ngữ âm chuẩn nhưng cách đọc của học sinh lại thể hiện ngữ âm của phương ngôn (nơi các em sinh sống)
+Học sinh của một số tỉnh ở miền Bắc thường không phát ngôn đánh vần được các âm quặt lưỡi. Ví dụ: phụ âm đầu /n/với /l/; phụ âm đầu /x/với /s/; phụ âm cuối /n/ với /t/.
+HS người miền Trung, miền Nam thì không phân biệt được chính xác thanh hỏi, ngã, Ví dụ: kể với kễ; nghỉ với nghĩ; …
Loại lỗi trên khó khắc phục hơn với cách phát âm toàn dân để trên cơ sở đó dạy phát âm chuẩn. Tuy nhiên chữ viết Tiếng Việt có cấu tạo đơn giản và tiếng Việt có tính thống nhất cao nên việc dạy với học sinh lớp 1 ở Việt Nam có thể giải quyết trọn vẹn trong vòng hai, ba tháng.

II/CƠ SỞ THỰC TIỄN
1/Mục tiêu của việc dạy Học vần
Học vần là môn học khởi đầu giúp cho học sinh chiếm lĩnh một công cụ mới để sử dụng trong học tập và giao tiếp. Đó là chữ viết. Tầm quan trọng của học vần chịu sự quy định bởi tầm quan trọng của chữ viết trong hệ thống ngôn ngữ. Nếu chữ viết được coi là phương tiện ưu thế nhất trong giao tiếp thì học vần có một vị trí quan trọng không thiếu được trong chương trình môn Tiếng Việt ở bậc Tiểu học.
Cùng với tập viết, học vần có nhiệm vụ lớn lao là trao cho các em cái chìa khoá để vận dụng chữ viết khi học tập. Khi biết đọc, biết viết các em có điều kiện nghe lời thầy giảng trên lớp, sử dụng sách giáo khoa, sách tham khảo…từ đó có điều kiện để học tốt các môn học khác có trong chương trình .
Chúng ta đều nhận thức sâu sắc rằng, môn Tiếng Việt ở Tiểu học rèn luyện cho HS cả 4 kĩ năng nghe, nói đọc, viết, song mục tiêu của việc dạy và học Tiếng Việt ở lớp 1 là đem lại cho các em kĩ năng đọc đúng,viết đúng. Quá trình đọc và viết đều thông qua chữ. Chữ viết của tiếng việt là ghi âm (về cơ bản đọc thế nào viết thế ấy). Muốn nắm được kĩ năng đọc, viết các em phải đồng thời nắm được cả hai.

2/Cấu tạo một bài dạy
Ở loại bài dạy kiến thức mới, cách trình bày trên trang sách nói chung phù hợp với trình tự các bước lên lớp thông thường trong hai tiết dạy. Cụ thể như sau:

 

Bài dạy phần “chữ cái và âm”
Tên bài (trình bày bằng chữ in thường)
Tranh, từ khoá (nội dung tranh gắn liền với nghĩa của từ khoá nhằm gợi mở, dẫn dắt HS).
Tranh gợi từ ngữ ứng dụng thêm để học sinh tập phát âm hoặc nhận dạng chữ ghi âm mới có ở từ ngữ ghi kèm tranh.
Tiếng khoá (còn gọi là tiếng mới được rút ra từ từ khoá trong đó mang âm và chữ ghi âm sẽ học).
Chữ ghi âm mới (ngoài chữ in thường có những chữ viết thường trên dòng kẻ để HS tập viết).
Từ ngữ (hoặc câu) ứng dụng để luyện đọc
Chữ ghi tiếng (viết thường trên dòng kẻ) cần luyện viết ứng dụng (thường là tiếng mới hoặc từ có tiếng mới học)
Tiếng ghép bởi các âm đã học và từ ngữ ứng dụng cần luyện đọc thêm ở lớp và ở nhà (còn gọi là phần ôn luyện cuối bài). Phần này thiết kế theo nguyên tắc: Bài học về nguyên âm sẽ ghép với phụ âm đã học và bài học về phụ âm sẽ ghép với các nguyên âm đã học để tạo thành tiếng, giúp trẻ “quen mắt” đọc nhanh. Các từ láy, từ ghép hay cụm từ ở dòng dưới có tác dụng cho trẻ tập đọc thêm đồng thời mở rộng vốn từ ở trẻ.
Bài dạy ở phần vần
Tên bài (chữ in thường)
Tranh, từ khoá (gồm tiếng đã được học và tiếng mới)
Tiếng khoá (mang vần mới).
Vần mới (trình bày bằng chữ in) chữ viết thường được trình bày kết hợp bên phải sách cùng ghi chữ tiếng mới)
Từ ứng dụng để luyện đọc
Chữ ghi vần- tiếng (viết thường trên dòng kẻ) cần luyện viết ứng dụng.
Tranh, câu (hoặc bài) ứng dụng để luyện đọc ở lớp, ở nhà.
Số lượng từ ngữ ứng dụng được ứng dụng ở mỗi bài với mức độ vừa phải. Tối thiểu: 3 từ ngữ ở bài học 1 vần, 4 từ ngữ ở bài học 2 vần, nhiều nhất là 6 từ ngữ ở bài học 3 vần. Nội dung các từ ngữ ứng dụng có sự chọn lọc và gợi mở liên tưởng ở các cặp: Vầng trăng/ lăng Bác/ vâng lời/ chị ngã em nâng/ lúa chiêm/ cái liềm … đôi khi có kết quả phân biệt vấn đề lẫn lộn hoặc chính tả như: hoa đào, dẻo tay, múa xoè, xương sườn, giọt sương … song điều quan trọng nhất là nội dung các từ ngữ, câu ứng dụng để luyện đọc vừa hướng vào các chủ đề cần thiết (nhà trường, gia đình, cuộc sống, thiên nhiên và xã hội gần gũi với trẻ …) vừa đáp ứng yêu cầu khắc sâu vần đã học, ôn luyện vần cũ đọc (tăng cường số lần lặp lại). Vì vậy bên cạnh những câu, bài có tính “văn chương”.

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

1
Toán
4.5/5
TÀI LIỆU WORD

30.000 

1
Toán
4.5/5
TÀI LIỆU WORD

30.000 

1
Toán
4.5/5
TÀI LIỆU WORD

30.000 

1
Toán
4.5/5
TÀI LIỆU WORD

30.000 

1
Toán
4.5/5
TÀI LIỆU WORD

30.000 

Theo dõi
Thông báo của
guest
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
Set your categories menu in Theme Settings -> Header -> Menu -> Mobile menu (categories)
Shopping cart

KẾT NỐI NGAY VỚI KIẾN EDU

Chúng tôi luôn sẵn sàng lắng nghe và đưa ra giải pháp phù hợp nhất cho vấn đề của bạn.

0814606698

Email

tailieugv@gmail.com

Đây chỉ là bản XEM THỬ - khách hàng vui lòng chọn mua tài liệu và thanh toán để nhận bản đầy đủ

TẢI TÀI LIỆU

Bước 1: Chuyển phí tải tài liệu vào số tài khoản sau với nội dung: Mã tài liệu
Chủ TK: Ngô Thị Mai Lan
STK Vietcombank: 1037627258 Copy

Bước 2: Gửi ảnh chụp giao dịch vào Zalo kèm mã tài liệu để nhận tài liệu qua Zalo hoặc email

Nhắn tin tới Zalo Tailieu GV (nhấn vào đây để xác nhận và nhận tài liệu!)