SKKN Xây dựng chủ đề dạy học “Linh kiện điện tử” từ các thiết bị, đồ dùng trong thực thực tiễn nhằm phát huy tính tích cực, tự lực, tư duy sáng tạo của học sinh.

Giá:
100.000 đ
Cấp học: THPT
Môn: Công nghệ
Lớp: 12
Bộ sách:
Lượt xem: 277
File:
TÀI LIỆU WORD
Số trang:
48
Lượt tải:
7

Sáng kiến kinh nghiệm “Xây dựng chủ đề dạy học “Linh kiện điện tử” từ các thiết bị, đồ dùng trong thực thực tiễn nhằm phát huy tính tích cực, tự lực, tư duy sáng tạo của học sinh.” triển khai gồm các biện pháp nổi bật sau:

II.2.1 Hệ thống kiến thức về “Linh kiện điện tử”
II.2.2 Thiết kế, xây dựng chủ đề “Linh kiện điện tử” từ các đồ dùng, thiết bị trong thực tiễn
II.2.2.1 Xây dựng kế hoạch hướng dẫn học sinh
II.2.2.2 Xây dựng chủ đề dạy học “Linh kiện điện tử”

 

Mô tả sản phẩm

Phần I: ĐẶT VẤN ĐỀ
I.1. Lý do chọn đề tài
V.I.Lê nin viết: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, nhận thức thực tại khách quan”. Quả thực, trong dạy học chúng ta nhìn thấy:
Hoạt động học là một hoạt động đặc thù của con người nhằm tiếp thu những tri thức, kỹ năng, kinh nghiệm mà loài người đã tích lũy được, đồng thời phát triển những phẩm chất năng lực của người học. Việc tiếp thu những tri thức, kỹ năng, kinh nghiệm nhằm sử dụng chúng trong hoạt động thực tiễn của mình. Cách tốt nhất để nắm vững (hiểu và sử dụng được) những tri thức, kỹ năng, kinh nghiệm là người học trực tiếp tiếp cận và vận hành. Như vậy, người học không phải tiếp thu một cách thụ động, dưới dạng đã kết thúc một cách cô đọng, chuyển trực tiếp từ giáo viên, tài liệu vào bộ não của mình mà phải thông qua hoạt động tự lực của bản thân mà tìm hiểu, chiếm lĩnh để từ cái cụ thể để tránh nhàm chán về lí thuyết.
Trong dạy học bộ môn Công nghệ, sự tiếp cận tri thức, tốt nhất là dạy cho học sinh không chỉ hiểu lí thuyết mà phải nhận biết, hiểu và vận dụng. Thực tế, kiến thức Công nghệ rất gần gũi với con người thế nhưng sự biến đổi từ lí thuyết của người học sang thực tiễn còn rất hạn chế, lúng túng và thiếu sáng tạo. Cụ thể: Trong chương trình Công Nghệ phổ thông các em học, tiếp thu nhiều kiến thức liên quan đến các linh kiện điện tử, mạch điện tử, máy móc (Điện trở, tụ điện, cuộn cảm, diôt…). Song sự nhận biết, hiểu ý nghĩa về các thông số, tác dụng trong mạch điện tử của các linh kiện và này còn rất nhiều hạn chế khi tiếp xúc trực tiếp.
Sau nhiều năm dạy học và với việc đổi mới giáo dục trong thời đại mới. Tôi xây dựng một số chủ đề dạy học Công Nghệ có các lĩnh vực phổ biến trong thực tiễn nhằm phát triển năng lực, tự học, tư duy sáng tạo và phẩm chất của người học, không phải học lí thuyết để biết thực tiễn mà tiếp cận thực tiễn để biết về lí thuyết.. Đề tài thực hiện: Xây dựng chủ đề dạy học “Linh kiện điện tử” từ các thiết bị, đồ dùng trong thực thực tiễn nhằm phát huy tính tích cực, tự lực, tư duy sáng tạo của học sinh. I.2. Mục đích nghiên cứu.
Xây dựng các chủ đề dạy học ngược: từ thực tiễn, các đồ dùng, thiết bị trong gia đình, xung quanh mình…để hình thành kiến thức thông qua tìm tòi, phân loại, hiểu biết và phát huy năng lực tự học, tích cực, tư duy sáng tạo cho học sinh.
I.3.Nhiệm vụ nghiên cứu.
– Tìm hiểu khái niệm, cấu trúc của tư duy tích cực, tư duy sáng tạo.
– Xây dựng và định hướng khai thác hệ thống kiến thức từ các thiết bịtrong thực tiễn. (VD: Tìm hiểu Tụ, cuộn cảm, điện trở từ các đồ dùng trong gia đình…)
– Tiến hành thực nghiệm sư phạm nhằm đánh giá tính khả thi và hiệu quảcủa đề tài.
I.4.Phương pháp nghiên cứu.
– Phương pháp nghiên cứu lí luận
– Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm I.5.Tính mới và những đóng góp của đề tài.
+ Giúp học sinh nắm vững và hệ thống kiến thức từ thực tiễn. nâng cao ý thức chủ động, tìm tòi kiến thức từ những sản phẩm, thiết bị có trong gia đình, trường lớp, …quanh ta. Phát triển năng lực chung và năng lực chuyên biệt về mạch điện tử, linh kiện điện tử…
+ Xây dựng được hệ thống kiến thức thực tiễn, tự giải quyết vấn đề, thu thập kiến thức chủ đề “Các linh kiện điện tử”.
+ Đánh giá được năng lực của học sinh thông qua những hoạt động trải nghiệm, tìm hiểu nội dung cần truyền thụ. Đặc biệt sự trao đổi, thảo luận, giúp đỡ nhau của học sinh trong khi tiếp cận kiến thức.

Phần II: NỘI DUNG
Chương 1. Cơ sở lí luận và thực tiễn II.1.1. Tư duy tích cực, tư duy sáng tạo và mối quan hệ giữa chúng
II.1.1.1. Tư duy là gì?
Tư duy là quá trình nhận thức khái quát và gián tiếp những sự vật và hiện tượng của hiện thực trong nhưng dấu hiệu, những thuộc tính bản chất của chúng, những mỗi quan hệ khách quan, phổ biến giữa chúng, đồng thời cũng là những sự vận dụng sáng tạo những kết luận khái quát đã thu được vào những dấu hiệu cụ thể, dự đoán được những thuộc tính, hiện tượng, quan hệ mới.
Những đặc điểm của tư duy:
+ Tư duy phản ánh hiện thực khách quan vào trong đầu. Bởi vậy, tư duy có quan hệ mật thiết với nhận thức cảm tính, sử dụng những tài liệu cảm tính, những kinh nghiệm thực tế, những cơ sở trực quan sinh động.
+ Tính trừu tượng và khái quát của tư duy: Tư duy phản ánh cái bản chất chung cho nhiều sự vật hiện tượng, tư duy cho phép ta đi sau vào bản chất và mở rộng phạm vi nhận thức sang cả những sự vật, hiện tượng cụ thể mới mà trước đây ta chưa biết.
+ Tính gián tiếp: Trong quá trình tư duy, quá trình hoạt động nhận thức của con người nhanh chóng thoát khỏi những sự vật cụ thể cảm tính mà sử dụng những khái niệm để biểu đạt chúng, thay thế những sự vật cụ thể bằng những kí hiệu, bằng ngôn ngữ.
+ Tư duy liên hệ chặt chẽ với ngôn ngữ. Không có ngôn ngữ thì bản thân quá trình tư duy không diễn ra được, đồng thời các sản phẩm của tư duy cũng không thể sử dụng được.
+ Tính “có vấn đề”: Hoạt động tư duy chỉ bắt đầu khi con người đứng trước một câu hỏi về một vấn đề mà mình quan tâm nhưng chưa giải đáp được bằng hiểu biết đa xcos của mình, nghĩa là gặp phải tình huống có vấn đề.
II.1.1.2. Các loại tư duy thường sử dụng.
1.Tư duy kinh nghiệm.
Tư duy chủ yếu trên kinh nghiệm cảm tính và sử dụng phương pháp “thử và sai”. Chủ thể phải thực hiện một nhiệm vụ nào đó, thử mò mẫn thực hiện một số thao tác, hành động nào đó, ngẫu nhiên gặp một trường hợp thành công, sau đó lặp lại đúng như thế mà không biết nguyên nhân vì sao. Kiểu tư duy này đơn giản, không cần phải rèn luyện nhiều, có ích trong hoạt động hàng ngày để giải quyết một số vấn đề trong phạm vi hẹp. Ví dụ đứng trước một chiếc Tivi có nhiều nút bấm, một HS bấm thử tất cả các nút. Sau một số lần bấm, em đó nhận ra rằng ấn nút thứ nhất thì có ảnh, ấn nút thứ hai thì có tiếng mà không hiểu tại sao. Đây là kiểu tư duy lí thuyết không được học để vận dụng.
2.Tư duy lí luận.
Đây là loại tư duy giải quyết nhiệm vụ được đề ra dựa trên sử dụng những khái niệm trừu tượng, những trí thức lí luận. Đặc trưng của loại tư duy này là:
+ Không dừng lại ở kinh nghiệm rời rạc mà luôn hướng tới xây dựng quy tắc, quy luật chung ngày một sâu rộng.
+ Tự định hướng hành động, suy nghĩ về cách thức hành động trước khi hành động.
+ Luôn sử dụng những tri thức khái quát đã có để lí giải, dự đoán những sự vật, hiện tượng cụ thể.
+ Luôn lật đi, lật lại vấn đề để đạt đến sự nhất quán về mặt lí luận, xác định được phạm vi ứng dụng của mỗi lí thuyết.
Tư duy lí luận rất cần cho hoạt động nhận thức và phải rèn luyện lâu dài mới có được. Nhờ có tư duy lí luận, con người mới có thể đi sâu được vào bản chất của sự vật hiện tượng, phát hiện được quy luật vận động của chúng và sử dụng những tri thức khái quát đó để cải tạo bản thân và làm biến đổi thế giới tự nhiên, phục vụ lợi ích của mình.
3.Tư duy logic.
Tự duy tuân theo các quy tắc, quy luật của loogic học một cách chặt chẽ, chính xác, không phạm phải sai lầm trong ác lập luận, biết phát hiện ra các mâu thuẫn, nhờ đó mà nhận thức được đúng đắn chân lí khách quan. Đối với học sinh ở trường phổ thông, không thể dạy cho họ loogic học để sau đó, họ mới vận dụng các quy tắc và quy luật loogic để suy nghĩ lập luận. Trái lại, ta có thể thông qua việc giải quyết những nhiệm vụ cụ thể mà tích lũy dần kinh nghiệm và đến một lúc nào đó sẽ tự tổng kết thành những quy tắc đơn giản thường dùng. Tư duy loogic được sử dụng trong mọi lĩnh vực hoạt động nhận thức, cho nên phải thường xuyên rèn luyện cho học sinh cách tư duy loogic.
4.Tư duy tích cực
Tư duy tích cực là cách mà chúng ta nhìn nhận mọi sự việc theo chiều hướng tích cực nhất. Những suy nghĩ về bản thân, mọi người xung quanh và thế giới bên ngoài được chọn lọc một cách tích cực. Thay vì phải đón nhận những thử thách trong cuộc sống với thái độ tiêu cực và bi quan, tư duy theo cách tích cực sẽ giúp bạn thay đổi mọi thứ.
Tư duy tích cực không phải là chúng ta suy nghĩ vấn đề thiếu thực tế hay “phủ một màu hồng lãng mạn”. Tư duy theo hướng tích cực là cách nhìn nhận thẳng thắn, không tránh né, không trốn tránh và những suy nghĩ đều được xác lập dưới góc nhìn chân thực và khoa học.
Điểm khác biệt của tư duy này với các loại hình tư duy khác, đó chính là tư duy mặt tích cực cho phép chúng ta thể hiện mong muốn của bản thân, thông qua “thái độ sống tích cực” để tạo ra thành công. Sức mạnh của tư duy theo cách tích cực là ở việc những suy nghĩ và niềm tin tích cực, hoàn toàn có thể trở thành sự thật trong tương lai.
II.1.1.3. Năng lực tư duy sáng tạo.
Khả năng tạo ra những giá trị mới về vật chất và tinh thần, tìm ra cái mới, giải pháp mới, công cụ mới, vận dụng thành công những hiểu biết đã có vào hoàn cảnh mới. Năng lực sáng tạo gắn với kĩ năng, kĩ xảo và vốn hiểu biết của chủ thể. Trong bất cứ lĩnh vực hoạt động nào, càng thành thạo và kiến thức sâu rộng thì càng nhạy bén trong dự đoán, đề ra được nhiều dự đoán, nhiều phương án để lựa chọn, càng tạo cho trực giác được phát triển. Bởi vậy, không thể rèn luyện năng lực sáng tạo tách rời, độc lập với học tập kiến thức về một lĩnh vực nào đó.
Đặc trưng tâm lí quan trọng của hoạt động sáng tạo là tính chất hai mặt chủ quan và khách quan: chủ quan theo quan điểm của người nhận thức mà trong đầu đạng diễn ra quá trình sáng tạo và khách quan theo quan điểm của người nghiên cứu cái quá trính sáng tạo đó xem như là một quá trình diễn ra có quy luật, tác động qua lại giữa ba yếu tố: tự nhiên, ý thức của con người và sự phản ánh tự nhiên vào ý thức của con người.
II.1.2. Dạy học theo hướng phát huy tính tự lực,tích cực, chủ động tìm tòi, sáng tạo cho học sinh
Hiện nay dạy học đang ngày càng được đổi mới, nhằm mục đích nâng cao chất lượng cho dạy và học đáp ứng yêu cầu đổi mới của nền giáo dục nước nhà. Một trong những điểm được đặc biệt quan tâm đó là dạy học phải làm sao phát huy được tính chủ động tính tích cực cho học sinh như vậy mới đem lại được hiệu quả. Dưới đây là các phương pháp dạy học phát huy tính tích cực của HS giáo viên có thể vận dụng.
II.1.2.1 Dạy học theo phương pháp vấn đáp.
Đây là phương pháp có nhiều ưu điểm, tạo được sự chủ động của học sinh, đồng thời đưa học sinh gần gũi với mỗi quan hệ thầy trò. Thầy đặt câu hỏi, trò trả lời, những vương mắc được xử lí trực tiếp thông qua hướng dẫn của trò. Một vấn đề sẽ được giải quyết trực tiếp, trò nhận được kiến thức một cách chủ động. Nhìn chung phương pháp này cần được phát huy rộng rãi cả thầy và trò đều đóng vai trò chủ đạo, kích thích rất tốt khả năng tư duy sáng tạo cho các em học sinh.
II.1.2.2 Dạy học theo phương pháp giải quyết vấn đề.
Phương pháp náy có ý nghĩa rất lớn, bởi lẽ ngoài việc có tác dụng thúc đẩy học sinh tư duy sáng tạo và chủ động. Nó còn ứng dụng thực tiễn vào cuộc sống hàng ngày trong việc nhìn nhận và giải quyết các tình huống cụ thể.
Giáo viên đặt ra tình huống, sau đó yêu cầu học sinh suy nghĩ và tìm cách giải quyết. Điểm nổi bật của phương pháp này là các em có thể đưa ra các kiến thức trái chiều nhau về tình huống đó mỗi người có cách nhìn nhận riêng. Điều này kích thích rất tốt khả năng xử lí của các em, sau đó giáo viên trình bày, tổng hợp lại và đưa ra cách xử lí phù hợp cho các em đồng thời sửa chữa những nhược điểm cho các em, phân tích cho các em thấy những điểm các em đã đạt được cần phát huy tốt hơn nữa trong các tình huống sau.
II.1.2.3 Dạy học theo phương pháp học tập phối hợp và hợp tác.
Sự không đồng đều về sự tiếp thu kiến thức, tư duy của học sinh trong một lớp học luôn là một vấn đề lớn. Khi vận dụng phương pháp phối hợp và hợp tác buộc phải chấp thuận sự phân hóa về cường độ, tiến độ hoàn tất nhiệm vụ học tập. Trong học tập, không phải mọi kiến thức, tài năng, thái độ hoài nghi đều được hình thành bằng những hoạt động độc lập cá nhân chủ nghĩa. Lớp học là môi trường tiếp xúc với nhau thầy-trò, trò-trò tạo nên mỗi quan hệ hợp tác giữa các cá nhân chủ nghĩa trên con đường chiếm lĩnh nội dung học hỏi. Phê duyệt, đàm luận, tranh luận trong tập thể, quan điểm mỗi các nhân chủ nghĩa được thổ lộ, tụ tin tuyên bố hay bác bỏ, qua đó người học nâng cao mình lên một trình độ mới.
II.1.2.4. Dạy học theo phương pháp hoạt động nhóm.
Tùy vào nội dung từng bài dạy mà giáo viên có thể chuẩn bị sẵn phương pháp cho phù hợp, có những bài có thể cho các em hoạt động làm việc theo nhóm, có thể chia lớp thành 4 – 5 nhóm tùy theo sĩ số của lớp học để chia cho hợp lí nhất. Đây là phương pháp khá phổ biến hiện nay, bởi phương pháp này tạo cho các em một tâm lí thoải mái khi được trao đổi lamg việc cùng nhau, chẳng hạn một vấn đề có thể có nhiều cách giải quyết, mỗi em có những cách khác nhau cho nên việc trao đổi nhóm giúp các em rất nhiều. Việc tổ chức hoạt động nhóm là rất cần thiết cho dạy học hiện nay.
II.1.2.5. Dạy học theo phương pháp phát huy tính chủ động.
Giáo viên không còn là người đóng vai trò truyền đạt kiến thức mà là là người thiết kế, tổ chức, chỉ dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm nhỏ để học trò tự lực chiếm lĩnh nội dung, chủ động đạt mục đích, tri thức, năng lực. Giáo viên gợi mở, xúc tác, cổ vũ, trọng tài trong các hoạt động tìm tòi hóa hức, tranh cãi của học sinh. Phương pháp này đòi hỏi giáo viên phải có tầm hiểu biết sâu rộng, có trình độ sư phạm lành nghề mới có khả năng tổ chức, chỉ dẫn các hoạt động của học trò mà nhiều khi diễn biến ngoài tầm dự kiến của giáo viên.
Phương pháp dạy học còn có thể có nhiều phương pháp nữa, tùy thuộc vào từng vấn đề mà giáo viên nên chon cho mình một phương pháp phù hợp. Có thể lồng ghép hai hay nhiều phương pháp trong một giáo án. Trên đây chỉ là năm phương pháp điển hình sử dụng tốt nhất để phát huy tính tự lực, tích cực và sáng tạo của HS.
II.1.3. Một số giải pháp hướng dẫn tính tư duy sáng tạo cho học sinh trong việc hình thành kiến thức chủ đề dạy học “linh kiện điện tử”.
II.1.3.1. Tạo nhu cầu hứng thú, kích thích tính tò mò, ham hiểu biết của học sinh gắn liền với quá trình xây dựng kiến thức mới.
Tư duy là quá trình tâm lí diễn ra trong đầu học sinh, nó chỉ thực sự hiệu quả khi học sinh mang hết sức mình để thực hiện. Tư duy chỉ thực sự bắt đầu khi trong đầu học sinh xuất hiện một câu hỏi mà chưa có lời giải đáp ngay, khi ho gặp phải mâu thuẫn giữa một bên là nhu cầu, nhiệm vụ nhận thức mới phải giải quyết và một bên là trình độ kiến thức hiện có không đủ để giải quyết nhiệm vụ đó, cần phải xây dựng kiến thức mới, tìm giải pháp mới. lúc đó, HS vừa ở trạng thái tâm lí hơi căng thẳng, vừa hưng phấn khao khát vượt qua được khó khăn, giải quyết được mâu thuẫn, đạt được một trình độ cao hơn trên con đường nhận thức. Ta nói rằng: học sinh được đặt vào “tình huống có vấn đề”
Ví dụ: Trong môn Công nghệ 12: Khi dạy bài “ Các linh kiện điện tử”. Giáo viên có thể tạo ra tình huống: “Nồi cơ điện chuyển hóa điện năng thành nhiệt năng”. “Nồi cơm điện” là một thiết bị thông dụng trong gia đình các em, bằng kiến thức vốn có em có thể trình bày về sự chuyển hóa năng lượng đó?
Khó khăn: Các em chỉ tư duy trừu tượng thông qua lí thuyết đã học về “Điện trở” hoặc “cuộn cảm”. Sự diễn đạt có thể trôi chảy về kiến thức nhưng lại hạn chế so với vấn đề trình bày qua thực tiễn thực tiễn.
Tạo thuận lợi để khắc phục khó khăn:
Các em có thể chuẩn bị sẵn một chiếc “nồi cơm điện” , sử dụng nồi cũ, không còn sử dụng (phế liễu). Tháo từng bộ phận và trình bày cấu tạo, tác dụng từng bộ phận. Đặc biệt chú ý đến bộ phận tạo nhiệt “Điện trở”.
Ngoài thiết bị nối cơm điện GV có thể tạo các tình huống liên quan đến các thiết bị như: Ấm siêu tốc, quạt điện, bàn là…
II.1.3.2. Lựa chọn thiết bị phù hợp với đối tượng học sinh và hình thành phát triển kiến thức.
Cuộc sống con người luôn gắn liền với các thiết bị, đồ dùng, có những cái thường xuyên, có những cái đôi lúc. Nhưng, thiết bị nào cũng liên quan đến kiến thức lí thuyết đã học. Vậy mà những thiết bị thường xuyên, gần gũi được chúng ta sử dụng, nhưng một điều hạn chế về sự hiểu biết về cấu tạo và nguyên tác hoạt động của chúng. Đặc biệt một số cái không thể không có trong một mạch điện tử: Điện trở, Tụ, Cuộn dây, Diot…
Cụ thể một số thiết bị đồ dùng
*Nồi cơm điện và bộ phận có điện trở
Nồi cơm điện cấu tạo gồm 3 phần:
*Vỏ nồi: Thường có hai lớp, giữa hai lớp vở có lớp cách nhiệt để giữ nhiệt bên trong. Trên vung nồi có van an toàn, được đậy chặt, khít với nồi để nhiệt năng không phát tán ra ngoài. Ngoài vỏ còn có cốc hứng nước ngưng tụ để khỏi rơi xuống nền bếp
*Nồi nấu: làm bằng hợp kim nhôm đặt khít trong vỏ, trong nồi có phủ một lớp men chống dính.
*Phần đốt nóng (mâm nhiệt): Dây điện trở được đúc trong ống có chất chịu nhiệt và cách điện với vỏ ống và đặt trong mâm dưới đáy nồi, giống như một bếp điện. Ở giữa mâm nhiệt có bộ cảm biến bên dưới nồi dùng để tự động ngắt điện khi cơm chín.

Sơ đố cấu tạo nồi cơm
* Ấm siêu tốc và bộ phận có điện trở.
Ngoài chức năng vượt trội, ấm siêu tốc còn sở hữu thiết kế gọn gàng và tiện dụng. Mặc dù trên thị trường đang bày bán rất nhiều sản phẩm với kiểu dáng & mức giá khác nhau, tuy nhiên nhìn chung cấu tạo ấm siêu tốc vẫn tương đối giống nhau. Dưới đây là các bộ phận chính thường được lắp đặt để cấu tạo nên một sản phẩm hoàn chỉnh, cụ thể như sau:

Cấu tạo ấm đun nước siêu tốc đơn giản nhưng mang lại hiệu quả cao khi sử dụng.

Hình ảnh phác họa sơ đồ mạch điện của ấm siêu tốc.
Trong các bộ phận của ấm siêu tốc giáo viên cần chú ý đến bộ phận quan trọng để chuyển hóa năng lượng đó là Đế ấm: Đây là bộ phận có cấu tạo phức tạp nhất của ấm siêu tốc, có tác dụng kết nối nguồn điện với phần thân ấm. Nhờ đó giúp truyền nhiệt vào nước, mang tới khả năng làm nóng & đun sôi nước thành công.
• Quạt điện và bộ phận Tụ điện
Sơ đồ mô tả cấu tạo mạch điện ở quạt

TÀI LIỆU LIÊN QUAN