SKKN Tổ chức dạy học dự án chủ đề: trải nghiệm thực tế về xác suất thống kê, góp phần bồi dưỡng năng lực cho học sinh THPT.

Giá:
100.000 đ
Môn: Toán
Lớp: 11
Bộ sách:
Lượt xem: 789
Lượt tải: 9
Số trang: 52
Tác giả:
Trình độ chuyên môn:
Đơn vị công tác:
Năm viết:
Số trang: 52
Tác giả:
Trình độ chuyên môn:
Đơn vị công tác:
Năm viết:

Sáng kiến kinh nghiệm SKKN Tổ chức dạy học dự án chủ đề: trải nghiệm thực tế về xác suất thống kê, góp phần bồi dưỡng năng lực cho học sinh THPT. triển khai gồm các biện pháp nổi bật sau:

– Với cơ sở lí luận và thực tiễn nói trên, tôi đã thiết kế và tổ chức DHDA chủ đề trải nghiệm về xác suất thống kê, nhằm phát huy tích cực, chủ động, hứng thú cho HS. Qua đó phát triển năng lực, phẩm chất cho các em.
– Khi thiết kế DHDA, tôi đã lựa chọn các tình huống nổi bật, phổ biến để HS trải nghiệm. Cần chú trọng việc tự chủ của HS trong thiết kế hoạt động trải nghiệm, từ đó tạo cho các em tính trách nhiệm trong công việc, năng lực tổ chức, tìm hiểu xã hội, năng lực sáng tạo, giải quyết vấn đề, năng lực hợp tác,…
– Để tổ chức dạy học DA tiết trải nghiệm một cách hiệu quả và khả thi tôi đã tìm cách đưa tiết trải nghiệm vào không gian lớp học với sự đa dạng về nội dung và phong phú về hình thức và tạo được sự hưởng ứng nhiệt tình của HS.

Mô tả sản phẩm

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lí do chọn đề tài
Chủ trương của Đảng và Nhà nước trong những năm gần đây thể hiện quyết tâm đổi mới trong toàn ngành giáo dục, với tiêu chí tạo ra những học sinh có năng lực tự học, tự nghiên cứu, sáng tạo, độc lập, tự chủ,.. Hội nhập với sự phát triển giáo dục phổ thông nói chung, dạy học môn Toán đang hướng đến đổi mới mục tiêu dạy học theo định hướng phát triển phẩm chất năng lực người học.
Dạy học dựa trên dự án (thuật ngữ tiếng Anh: Project Based Learning), gọi tắt là dạy học dự án (DHDA) là phương pháp dạy học được xây dựng nhằm khắc phục nhược điểm của dạy học truyền thống, học sinh được rèn luyện và trải nghiệm, sáng tạo, được tham gia giải quyết vấn đề nảy sinh mang ý nghĩa thực tiễn và tạo hứng thú, tránh được sự nhàm chán, hàn lâm trong học tập. Dạy học dự án hoàn toàn phù hợp để thực hiện nhiệm vụ quan trọng của giáo dục đó là phát triển cá nhân một cách tổng thể, ngoài việc trang bị cho học sinh những kiến thức tối thiểu còn hoàn thiện cho học sinh các năng lực nhất định để thích nghi với sự tiến bộ nhanh chóng của khoa học kĩ thuật và yêu cầu xã hội.
Từ thực tế giảng dạy và quá trình thực nghiệm điều tra sự thay đổi của học sinh trong việc phát triển phẩm chất năng lực tôi mạnh dạn đề xuất đề tài: “Tổ chức dạy học dự án chủ đề: trải nghiệm thực tế về xác suất thống kê, góp phần bồi dưỡng năng lực cho học sinh THPT”. Hi vọng đề tài được sự góp ý và ủng hộ của các đồng nghiệp để có thể áp dụng rộng rãi vào quá trình dạy học.
2. Mục đích nghiên cứu
Trong phạm vi đề tài này, tôi xin trình bày thiết kế quy trình dạy học dự án chủ đề trải nghiệm thực tế về xác suất thống kê trong chương trình môn Toán lớp 11, nhằm giúp học sinh nhận thấy rõ hơn ý nghĩa của toán học, của lí thuyết xác suất trong đời sống, và thông qua các hoạt động thực tế mà các em tự mình trải nghiệm sẽ góp phần bồi dưỡng và phát triển năng lực, phẩm chất chung và một số năng lực đặc thù của môn Toán.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
– Học sinh lớp 11
– Giáo viên giảng dạy môn Toán bậc THPT
4. Điểm mới của đề tài
Tính mới của đề tài là tác giả đã biết khai thác, vận dụng linh hoạt phương pháp dạy học dự án tạo ra các hoạt động trải nghiệm dưới hình thức tổ chức trò chơi giải trí, đưa tiết học trải nghiệm thực tế vào trong không gian lớp học, làm cho học sinh thêm yêu môn Toán, thích phương pháp dạy học mới, có nhiều sáng tạo hơn trong cuộc sống và đặc biệt được rèn luyện và phát triển nhiều phẩm chất năng lực rất cần trong xã hội hiện đại.
PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
I. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA DẠY HỌC DỰ ÁN GÓP PHẦN BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC CHO HỌC SINH THPT
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1 Tổng quan về dạy học dự án.
a) Khái niệm dạy học dự án:
Phương pháp DHDA là một hình thức (mô hình) dạy học, trong đó người học thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, nhằm tạo ra các sản phẩm và giới thiệu chúng. Nhiệm vụ của phương pháp này đòi hỏi người học cần có tính tự học cao trong toàn bộ quá trình học tập. Làm việc nhóm là hình thức cơ bản của dạy học dự án.
b) Đặc trưng cơ bản của dạy học dự án
– Người học là trung tâm của quá trình dạy học
– Dự án tập trung vào những mục tiêu học tập quan trọng
– Dự án được định hướng theo bộ câu hỏi khung chương trình
– Dự án đòi hỏi các hình thức đánh giá đa dạng và thường xuyên
– Dự án có tính liên hệ với thực tế
– Người học thể hiện sự hiểu biết của mình thông qua sản phẩm và quá trình thực hiện
– Công nghệ hiện đại hỗ trợ và thúc đẩy việc học của người học
– Kĩ năng tư duy là yếu tố không thể thiếu trong phương pháp dạy học dự án  c) Vai trò của giáo viên và học sinh trong dạy học dự án  +) Vai trò của học sinh:
– Học sinh là người quyết định cách tiếp cận vấn đề cũng như phương pháp và các hoạt động cần phải tiến hành để giải quyết vấn đề đó.
– HS tập giải quyết các vấn đề của cuộc sống thực bằng các kĩ năng của người lớn thông qua làm việc theo nhóm.
– HS là người lựa chọn các nguồn dữ liệu, thu thập dữ liệu từ những nguồn khác nhau đó, rồi tổng hợp, phân tích và tích lũy kiến thức từ quá trình làm việc của chính các em.
– HS hoàn thành việc học với các sản phẩm cụ thể (dự án) và có thể trình bày, bảo vệ sản phẩm đó.
– HS cũng là người trình bày kiến thức mới mà họ đã tích lũy thông qua dự án – HS là người đánh giá và được đánh giá dựa trên những gì đã thu thập được, dựa trên tính khúc chiết, tính hợp lý trong cách thức trình bày của các em theo những tiêu chí đã xây dựng trước đó.  +) Vai trò của giáo viên:
Khác với phương pháp dạy học truyền thống, giáo viên đóng vai trò trung tâm, là chuyên gia và nhiệm vụ chính là truyền đạt kiến thức, trong DHDA, GV  chỉ là người hướng dẫn và tham vấn chứ không phải là “cầm tay chỉ việc” cho HS của mình. Theo đó, giáo viên không dạy nội dung cần học theo cách truyền thống mà từ nội dung nhìn ra sự liên quan của nó tới các vấn đề của cuộc sống, hình thành ý tưởng về một dự án liên quan đến nội dung học, tạo vai trò cho học sinh trong dự án, làm cho vai trò của học sinh gắn với nội dung cần học…
Tóm lại, giáo viên không còn giữ vai trò chủ đạo trong quá trình dạy học mà trở thành người hướng dẫn, người giúp đỡ học sinh, tạo môi trường thuận lợi nhất cho các em trên con đường thực hiện dự án.   +) Vai trò của công nghệ:
Mặc dù công nghệ không phải là vấn đề cốt yếu đối với phương pháp DHDA nhưng nó có thể nâng cao kinh nghiệm học tập và đem lại cho học sinh cơ hội để hòa nhập với thế giới bên ngoài, tìm thấy các nguồn tài nguyên và tạo ra sản phẩm.
d)  Hồ sơ bài học trong DHDA +) Mục tiêu dạy học
Mục tiêu phải dựa trên chuẩn kiến thức, kĩ năng, năng lực được Bộ GD&ĐT ban hành, kết hợp với mục tiêu giáo dục địa phương. +) Ý tưởng, tên dự án
Từ mục tiêu dạy học và nội dung bài học (thường là những bài học có nhiều ứng dụng trong thực tiễn) giáo viên hình thành ý đồ tổ chức bài học thành dự án và suy nghĩ về ý tưởng dự án, đặt tên cho dự án.
+) Sản phẩm của dự án, phiếu đánh giá sản phẩm
Sản phẩm của dự án là kết quả thực hiện dự án của học sinh, gồm hai dạng:
– Bài thuyết trình (văn bản Word hoặc bài trình bày bằng PowerPoint).
– Sản phẩm vật chất: Bản vẽ, mô hình, thiết bị, vật liệu, Video, chương trình,….
+) Bộ câu hỏi định hướng:
– Câu hỏi khái quát :
Câu hỏi khái quát là những câu hỏi mở, có phạm vi rộng, kích thích sự khám phá, nhắm đến những khái niệm lớn và lâu dài, đòi hỏi các kỹ năng tư duy bậc cao và thường có tính chất liên môn.
Để xây dựng được câu hỏi khái quát GV cần trả lời những vấn đề sau: Tại sao HS phải quan tâm đến môn học này? Giá trị của môn học nằm ở đâu? Làm gì để nội dung chương trình học thật sự có ý nghĩa đối với HS? Điều gì HS có thể nhớ được từ môn học trong năm năm tới hay trong cả một đời người? Làm thế nào để kiến thức môn học trở thành niềm tin, hướng dẫn hành động và cách xử sự của HS?
– Câu hỏi bài học:
Câu hỏi bài học là những câu hỏi mở, có liên hệ trực tiếp với dự án hoặc bài học cụ thể, đòi hỏi các kỹ năng tư duy bậc cao, giúp học sinh tự xây dựng câu trả lời và hiểu biết của bản thân từ thông tin mà chính các em thu thập được.
Để xây dựng được câu hỏi bài học GV cần trả lời những vấn đề sau: Tại sao nội dung này trong bài học lại quan trọng? Tại sao HS cần phải quan tâm nội dung này? Giá trị của bài học này nằm ở đâu? HS cần ghi nhớ gì từ bài này? Những điều nào cần được rút ra từ bài học này? HS cần liên kết, mở rộng và kết luận gì từ nội dung mà các em đang học?
– Câu hỏi nội dung:
Câu hỏi nội dung là những câu hỏi đóng, có các câu trả lời “đúng” được xác định rõ ràng, trực tiếp hỗ trợ việc dạy và học các kiến thức cụ thể, thường có liên quan đến các định nghĩa hoặc yêu cầu nhớ lại thông tin (như các câu hỏi kiểm tra thông thường)
Để xây dựng được câu hỏi bài học GV cần trả lời những vấn đề sau: HS cần trả lời được câu hỏi ngắn nào sau khi học xong bài? Phải chắc chắn là những câu hỏi không quá rộng, chúng cần có duy nhất một câu trả lời đúng; Tập trung vào các sự kiện nào mà HS trả lời được và hiểu được để có thể trả lời những câu hỏi lớn hơn của bài học.
+) Giáo án triển khai dự án:
Là kế hoạch bài học để giao nhiệm vụ đến các nhóm học sinh. Bản kế hoạch phải đạt được các yêu cầu sau:
– Tạo nhóm, HS xác định được nhiệm vụ của nhóm và lập kế hoạch hoạt động nhóm, phân công nhiệm vụ cá nhân trong nhóm.
– Hướng dẫn triển khai thực hiện nhiệm vụ qua bộ câu hỏi định hướng và bộ tiêu chí đánh giá sản phẩm dự án.
– Cung cấp địa chỉ thông tin cần tra cứu, đọc hiểu, tham khảo và tài liệu phát tay (nếu có).
– Cung cấp địa chỉ trao đổi thông tin với giáo viên và nhận phản hồi trong quá trình kiến tạo ra sản phẩm.
+) Giáo án nghiệm thu dự án:
Giáo án nghiệm thu dự án là kế hoạch bài học nghiệm thu các sản phẩm dự án của học sinh. Giáo viên và học sinh đánh giá quá trình thực hiện và kết quả cũng như kinh nghiệm đạt được cần phải trả lời các câu hỏi:
– Dự án vừa thực hiện có cho phép một sự học tập tích cực hay không?
– Trong tương lai dự án có thể thực hiện khác được không?
– Hướng phát triển tiếp theo của dự án là gì?
+) Minh chứng sản phẩm dự án:
Ảnh, Clip quá trình tạo, giới thiệu sản phẩm của học sinh; Ảnh chụp các sản phẩm (mô hình, thiết bị,…); Sản phẩm vật chất hoặc bài thuyết trình, bài trình chiếu PowerPoint, chương trình, tờ rơi, bức tranh, bản vẽ, …
e) Bộ công cụ đánh giá trong dạy học dự án
+) Phiếu quan sát: phiếu quan sát là một công cụ đánh giá căn cứ các nội dung quan sát để liệt kê các tiêu chí cần đánh giá.
+) Sổ theo dõi dự án: là căn cứ để đánh giá quá trình thực hiện dự án, gồm: tên nhóm, tên dự án, danh sách các thành viên, các ý tưởng ban đầu, kế hoạch DA, bảng phân công nhiệm vụ, tổng hợp dữ liệu, ghi biên bản thảo luận, nhìn lại DA, thông tin phản hồi của GV.
+) Phiếu đánh giá (hay bảng kiểm đánh giá): là một công cụ căn cứ liệt kê danh sách các tiêu chí đánh giá một SP của DA: như mô hình vật chất, bài trình bày Power Point,…
+) Phiếu thăm dò thái độ học sinh : là bảng liệt kê các phát biểu yêu cầu HS chỉ ra mức độ họ tán thành với mỗi phát biểu. Thường có 5 mức độ: Rất không đồng ý, không đồng ý, trung tính, đồng ý và rất đồng ý. Những phản ứng cá nhân từ các mức độ tán thành được gán điểm số từ 1 đến 5.
f) Ưu điểm và hạn chế của phương pháp DHDA
Như mọi phương pháp khác, PPDHDA đều có cả ưu và nhược điểm, học tập dựa trên dự án không giới hạn về kiến thức và thông tin, với sự giúp đỡ của GV học sinh có cơ hội biến đổi, khám phá bản thân trong chính quá trình học tập. Ngày nay học đọc không còn đủ nữa, biết cách giải quyết vấn đề, hợp tác làm việc và tư duy đổi mới được coi là kỹ năng thiết yếu của thời đại mới. Do đó học tập dựa trên dự án được chấp nhận như một phương pháp hiệu quả cho các quá trình giảng dạy.
+) Ưu điểm:
– Gắn lý thuyết với thực hành, tư duy và hành động, nhà trường và xã hội.
– Kích thích động cơ, hứng thú học tập của người học.
– Phát huy tính tự lực, tính trách nhiệm.
– Phát triển khả năng sáng tạo.
– Rèn luyện năng lực giải quyết những vấn đề phức tạp.
– Rèn luyện kỹ năng khai thác thông tin một cách hiệu quả.
– Rèn luyện năng lực cộng tác làm việc.
– Phát triển năng lực đánh giá.
+) Hạn chế:
– Không phù hợp trong việc truyền thụ tri thức mang tính hệ thống cũng như rèn luyện hệ thống kỹ năng cơ bản.
– Đòi hỏi nhiều thời gian.
– Không thay thế cho phương pháp thuyết trình và các PPDH bổ sung cho phương pháp truyền thống.
– Đòi hỏi phương tiện vật chất và tài chính phù hợp.
1.1.2. Cơ sở lí luận về dạy học dự án góp phần phát triển năng lực cho học sinh trong dạy học môn Toán ở cấp THPT.
a) Mục tiêu của chương trình giáo dục phổ thông tổng thể môn Toán
+) Mục tiêu chung
Chương trình môn Toán giúp học sinh đạt các mục tiêu chủ yếu sau:
– Hình thành và phát triển năng lực toán học bao gồm các thành tố cốt lõi sau: năng lực tư duy và lập luận toán học; năng lực mô hình hoá toán học; năng lực giải quyết vấn đề toán học; năng lực giao tiếp toán học; năng lực sử dụng công cụ, phương tiện học toán.
– Góp phần hình thành và phát triển ở học sinh các phẩm chất chủ yếu và năng lực chung theo các mức độ phù hợp với môn học, cấp học được quy định tại chương trình tổng thể.
– Có kiến thức, kĩ năng toán học phổ thông, cơ bản, thiết yếu; phát triển khả năng giải quyết vấn đề có tính tích hợp liên môn giữa môn Toán và các môn học khác như Vật lí, Hoá học, Sinh học, Địa lí, Tin học, Công nghệ, Lịch sử, Nghệ thuật,…; tạo cơ hội để học sinh được trải nghiệm, áp dụng toán học vào thực tiễn.
– Có hiểu biết tương đối tổng quát về sự hữu ích của toán học đối với từng ngành nghề liên quan để làm cơ sở định hướng nghề nghiệp, cũng như có đủ năng lực tối thiểu để tự tìm hiểu những vấn đề liên quan đến toán học trong suốt cuộc đời.
+) Mục tiêu cấp trung học phổ thông
Môn Toán cấp trung học phổ thông nhằm giúp học sinh đạt các mục tiêu chủ yếu sau:
– Góp phần hình thành và phát triển năng lực toán học với yêu cầu cần đạt: nêu và trả lời được câu hỏi khi lập luận, giải quyết vấn đề; sử dụng được các phương pháp lập luận, quy nạp và suy diễn để hiểu được những cách thức khác nhau trong việc giải quyết vấn đề; thiết lập được mô hình toán học để mô tả tình huống, từ đó đưa ra cách giải quyết vấn đề toán học đặt ra trong mô hình được thiết lập; thực hiện và trình bày được giải pháp giải quyết vấn đề và đánh giá được giải pháp đã thực hiện, phản ánh được giá trị của giải pháp, khái quát hoá được cho vấn đề tương tự; sử dụng được công cụ, phương tiện học toán trong học tập, khám phá và giải quyết vấn đề toán học.
– Có những kiến thức và kĩ năng toán học cơ bản, thiết yếu về:
Đại số và một số yếu tố Giải tích: tính toán và sử dụng công cụ tính toán; sử dụng ngôn ngữ và kí hiệu đại số; biến đổi biểu thức đại số và siêu việt (lượng giác, mũ, lôgarit), phương trình, hệ phương trình, bất phương trình; nhận biết các hàm số sơ cấp cơ bản (luỹ thừa, lượng giác, mũ, lôgarit); khảo sát hàm số và vẽ đồ thị hàm số bằng công cụ đạo hàm; sử dụng ngôn ngữ hàm số, đồ thị hàm số để mô tả và phân tích một số quá trình và hiện tượng trong thế giới thực; sử dụng tích phân để tính toán diện tích hình phẳng và thể tích vật thể trong không gian.
Hình học và Đo lường: cung cấp những kiến thức và kĩ năng (ở mức độ suy luận logic) về các quan hệ hình học và một số hình phẳng, hình khối quen thuộc; phương pháp đại số (vectơ, toạ độ) trong hình học; phát triển trí tưởng tượng không gian; giải quyết một số vấn đề thực tiễn đơn giản gắn với Hình học và Đo lường.
Thống kê và Xác suất: hoàn thiện khả năng thu thập, phân loại, biểu diễn, phân tích và xử lí dữ liệu thống kê; sử dụng các công cụ phân tích dữ liệu thống kê thông qua các số đặc trưng đo xu thế trung tâm và đo mức độ phân tán cho mẫu số liệu không ghép nhóm và ghép nhóm; sử dụng các quy luật thống kê trong thực tiễn; nhận biết các mô hình ngẫu nhiên, các khái niệm cơ bản của xác suất và ý nghĩa của xác suất trong thực tiễn.
– Góp phần giúp học sinh có những hiểu biết tương đối tổng quát về các ngành nghề gắn với môn Toán và giá trị của nó; làm cơ sở cho định hướng nghề nghiệp sau trung học phổ thông; có đủ năng lực tối thiểu để tự tìm hiểu những vấn đề liên quan đến toán học trong suốt cuộc đời.
b) Năng lực chung và năng lực đặc thù.
+) Năng lực chung là những năng lực cơ bản, thiết yếu hoặc cốt lõi, làm nền tảng cho mọi hoạt động của con người trong cuộc sống và lao động nghề nghiệp. Các năng lực này được hình thành và phát triển dựa trên bản năng di truyền của con người, quá trình giáo dục và trải nghiệm trong cuộc sống; đáp ứng yêu cầu của nhiều loại hình hoạt động khác nhau. Những năng lực chung sẽ được nhà trường và giáo viên giúp các em học sinh phát triển trong chương trình giáo dục phổ thông là:
– Năng lực tự chủ và tự học.
– Kỹ năng giao tiếp và hợp tác nhóm với các thành viên khác.
– Giải quyết vấn đề theo nhiều cách khác nhau một cách sáng tạo và triệt để.
+)  Năng lực đặc thù là những năng lực được hình thành và phát triển trên cơ sở các năng lực chung theo định hướng chuyên sâu, riêng biệt trong các loại hình hoạt động, công việc hoặc tình huống, môi trường đặc thù, cần thiết cho những hoạt động chuyên biệt, đáp ứng yêu cầu hạn hẹp hơn của một hoạt động. Đây cũng được xem như một năng khiếu, giúp các em mở rộng và phát huy bản thân mình nhiều hơn. Các năng lực đặc thù được rèn luyện và phát triển trong chương trình giáo dục phổ thông mới là:
– Năng lực tìm hiểu tự nhiển và xã hội.
– Năng lực ứng dụng công nghệ – Năng lực thẩm mỹ.
– Năng lực thể chất.
– Năng lực Tin học.
– Năng lực tính toán.
– Năng lực ngôn ngữ.
c) Ưu thế vận dụng dạy học dự án vào môn Toán
Toán học là một môn khoa học tự nhiên, những kiến thức toán gắn kết một cách chặt chẽ với thực tế đời sống. Tuy nhiên, hiện nay còn một số tồn tại trong việc dạy và học đó là:
– Việc dạy của giáo viên nặng về lí thuyết chưa chú ý đến việc hướng dẫn học sinh vận dụng vào thực tiễn cuộc sống hàng ngày.
– Đối với đại đa số học sinh, việc vận dụng kiến thức toán vào đời sống mới chỉ dừng lại ở việc thực hiện phép toán cộng, trừ, nhân, chia.
Trong khi đó, dạy học dự án tạo điều kiện tốt nhất góp phần đảm bảo các mục tiêu chung của môn Toán đặc biệt là việc đảm bảo bốn năng lực cơ bản trong dạy học Toán đó là:
– Năng lực hành động hiệu quả trên cơ sở những kiến thức, kĩ năng, phẩm chất đã được hình thành trong quá trình học tập, rèn luyện và giao tiếp.
– Năng lực hợp tác, phối hợp hoạt động trong đời sống và học tập.
– Năng lực sáng tạo, có thể thích ứng với những thay đổi trong cuộc sống.
– Năng lực tự khẳng định bản thân.
Như vậy, dạy học dự án là hình thức dạy và học thích hợp đối với các môn khoa học có ứng dụng như Toán học.
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Thuận lợi và khó khăn
a) Thuận lợi
– Bản thân là giáo viên nhiệt tình, ham học hỏi, đam mê Toán, luôn chịu khó tìm tòi sáng tạo, học hỏi và áp dụng các phương pháp mới.
– Trường chúng tôi có rất nhiều học sinh giỏi, năng động, đặc biệt là những học sinh lớp chọn có tố chất; nhiệt tình và luôn mong muốn tìm hiểu, khám phá những vấn đề mới của Toán học cũng như cuộc sống.
– Tôi được tham gia học tập BDTX về đổi mới dạy học cũng như tham gia các lớp tập huấn của sở về chủ đề DHDA mà tôi đang nghiên cứu.
b) Khó khăn
– Bên cạnh những thuận lợi đó thì chúng tôi cũng gặp một số khó khăn. Đặc thù của môn Toán là rất khó so với các môn học khác, hơn nữa các ứng dụng trong thực tế thường không rõ nét nên một số em thường có tâm lý e ngại khi học Toán.
– Dạy học dự án đòi hỏi sự đầu tư về mặt thời gian, có phần ảnh hưởng đến quỹ thời gian chung của HS nên sẽ không tổ chức được nhiều trong quá trình dạy học.
– Ảnh hưởng của dịch bệnh đến điều kiện tổ chức trải nghiệm thực tế.
1.2.2 Thực trạng của đề tài
Để có kết luận xác đáng, tôi đã tiến hành khảo sát tìm hiểu về phía học sinh và phía giáo viên. Đối tượng điều tra khảo sát là GV, HS ở trường tôi đang công tác và một số GV trường THPT trên địa bàn tỉnh Nghệ An Phương pháp: phỏng vấn.
a) Đối với giáo viên
Dựa trên kết quả khảo sát GV trường tôi công tác và một số GV THPT trên địa bàn tỉnh tôi nhận thấy:
– Các trường THPT đã và đang tiến hành DHDA, tuy nhiên việc tiến hành không thường xuyên. Trong hoạt động dạy học, việc áp dụng DHDA chủ yếu triển khai ở các tiết NCBH hoặc thao giảng, nên hiệu quả đại trà chưa cao.
– Phần lớn GV đã chú ý đến dạy học PTNL, tuy nhiên chưa mạnh dạn sử dụng các phương pháp và kĩ thuật dạy học theo định hướng PTNL… Việc vận dụng phương pháp dạy học tích cực còn chưa được thường xuyên, thiếu linh hoạt, mang tính dập khuôn, máy móc nên chưa gây được hứng thú học tập cho HS.
– Phần lớn các tiết học trải nghiệm GV còn chưa thực sự đầu tư, chủ yếu dừng lại ở việc làm bài tập như hoạt động tìm tòi và mở rộng chứ chưa đi vào thực tiễn cụ thể.
– Căn cứ vào nội dung SGK và PPCT lớp 10, 11, 12 về các tiết trải nghiệm toán học, bản thân tôi và các đồng nghiệp đều khẳng định nội dung này rất phù hợp với hình thức DHDA, đặc biệt là dạy học theo định hướng phát triển năng lực chung. b) Đối với học sinh
Dựa trên kết quả khảo sát học sinh trường tôi công tác và các trường THPT trên địa bàn tôi nhận thấy:
– Hầu hết học sinh đều cho rằng môn Toán rất khô khan, ít vận dụng thực tiễn, không hấp dẫn, một số giáo viên chưa có phươngpháp dạy học tích cực, hiệu quả nên chưa truyền được niềm đam mê, sự hứng thú cho các em.
– Đa số học sinh còn cảm thấy chưa quen với việc học tập DA trong môn Toán. Các em đã quen với các PPDH truyền thống, lối truyền thụ một chiều. Tuy nhiên ở một số môn học khác thì vấn đề này đã được áp dụng khá phổ biến.
– Phần lớn HS chưa biết cách sử dụng các kiến thức thực tiễn và kiến thức liên môn trong giải quyết các bài tập và làm bài kiểm tra cũng như các tình huống trong cuộc sống hàng ngày.
1.3. Giải pháp
– Với cơ sở lí luận và thực tiễn nói trên, tôi đã thiết kế và tổ chức DHDA chủ đề trải nghiệm về xác suất thống kê, nhằm phát huy tích cực, chủ động, hứng thú cho HS. Qua đó phát triển năng lực, phẩm chất cho các em.
– Khi thiết kế DHDA, tôi đã lựa chọn các tình huống nổi bật, phổ biến để HS trải nghiệm. Cần chú trọng việc tự chủ của HS trong thiết kế hoạt động trải nghiệm, từ đó tạo cho các em tính trách nhiệm trong công việc, năng lực tổ chức, tìm hiểu xã hội, năng lực sáng tạo, giải quyết vấn đề, năng lực hợp tác,…
– Để tổ chức dạy học DA tiết trải nghiệm một cách hiệu quả và khả thi tôi đã tìm cách đưa tiết trải nghiệm vào không gian lớp học với sự đa dạng về nội dung và phong phú về hình thức và tạo được sự hưởng ứng nhiệt tình của HS.
(Video minh họa tiết thực nghiệm tại lớp 11A5 trường THPT Phan Đăng Lưu năm học 2020-2021 đã minh chứng cho nội dung này rất thuyết phục)
1.4. Khả năng ứng dụng và phát triển của đề tài
Đề tài này có khả năng ứng dụng và triển khai cho môn Toán ở các trường THPT và các đối tượng học sinh. Tôi tin tưởng vào tính khả thi của đề tài này. Hi vọng các đồng nghiệp sẽ triển khai, phát triển và ứng dụng thành công.
II. THIẾT KẾ TIẾN TRÌNH DẠY HỌC DỰ ÁN CHỦ ĐỀ TRẢI NGHIỆM THỰC TẾ VỀ XÁC SUẤT THỐNG KÊ – MÔN TOÁN LỚP
2.1 Đối tượng tiến hành dự án, điều kiện tiến hành dự án
– Học sinh lớp 11 sau khi học xong kiến thức về xác suất thống kê
– Trong điều kiện học trực tiếp thì có thể tổ chức thực hành trải nghiệm thực tế.
2.2 Chủ đề, mục tiêu và ý tưởng của dự án
Xác suất thống kê là nền tảng của khoa học dữ liệu. Thống kê là một trong những ngành khoa học có ứng dụng nhiều nhất hiện nay với vai trò lớn trong tất cả các nghiên cứu định lượng. Xác suất là một môn học để tính toán xem tỷ số, tỷ lệ xảy ra với một hiện tượng, một biến cố trong một khoảng thời gian cố định như thế nào. Xác suất còn là một môn toán học mang tính chất ngẫu nhiên, từ những sự việc xảy ra đã giúp cho con người phán đoán những sự kiện, xem khả năng chúng ta gặp những sự kiện đó như thế nào, những việc đó nằm trong khả năng bắt buộc cần phải phán đoán.
Xác suất trong cuộc sống rất quan trọng, nó xuất hiện khá nhiều trong đời sống hàng ngày, nếu chúng ta có khả năng phán đoán các sự việc các biến cố xảy ra một cách chính xác thì việc này sẽ giúp quyết định thành hay bại trong những tình huống ở mỗi con người cụ thể. Do đó chủ đề ” Trải nghiệm thực tế về xác suất thống kê” là một chủ đề rất thiết thực và tạo nhiều hứng thú cho người học.
a) Nội dung chủ đề
– Tìm hiểu các tình huống trong thực tế có sử dụng khái niệm cổ điển của xác suất: bốc thăm trúng thưởng, vòng quay may mắn, xổ số, lô đề …và chuyển tải thành một chương trình thể hiện trong tiết học trên lớp.
– Tiến hành thực nghiệm nội dung xác suất thống kê.
b) Mục tiêu hướng tới:
– Học sinh nhớ được công thức tính và các tính chất của xác suất đã được học.
– Vận dụng các kiến thức đã học vào giải quyết bài toán trong thực tế. Từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm (trong đó yêu cầu viết được bản thuyết trình tuyên truyền học sinh không chơi lô, đề)
– Phát triển năng lực tự chủ và tự học, năng lực sáng tạo, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực tin học, khả năng ứng dụng công nghệ, năng lực ngôn ngữ…. và giải quyết những vấn đề phát sinh trong học tập và đời sống thực tế. c) Ý tưởng
– HS thể hiện các tình huống thực tế về xác suất thông qua các trò chơi hoặc trình bày qua Video quay trước. Rèn luyện cho HS các kĩ năng thực hành, phát triển tốt các năng lực cốt lõi theo tư tưởng đổi mới PPDH trong giai đoạn hiện nay.
2.3 Xây dựng bộ câu hỏi định hướng của dự án
Câu hỏi khái quát
CH1.Học toán có ý nghĩa gì, quan trọng như thế nào?
CH2. Toán học có liên hệ gì với thực tế?
CH3. Trong thời đại 4.0 hiện nay con người cần có những năng lực gì để thích ứng với xã hội?
Câu hỏi  bài học CH1. Ứng dụng của xác suất thống kê thể hiện qua tình huống cụ thể nào trong đời sống?
CH2. HS học được gì qua các hoạt động trải nghiệm ?

 

 

CH1. Định, nghĩa, tính chất của xác suất cổ điển?
CH2. Hiểu thế nào là xác suất thống kê?
CH3. Kể tên các tình huống liên quan đến xác suất trong thực tế?
CH4. Kể tên các hoạt động thực nghiệm xác suất trong thực tế?
Câu hỏi CH5. Các hoạt động có thể tổ chức để  trải nghiệm các tình huống
nội dung nêu trên?

 

 

 

CH6. Lí thuyết xác suất cổ điển được lồng ghép vào hoạt động trải nghiệm cụ thể qua các câu hỏi nào?
CH7. Kịch bản tổ chức hoạt động này như thế nào ?
CH8. Kế hoạch hoạt động chi tiết ?
CH9. Ý nghĩa sau các hoạt động trải nghiệm là gì?
CH10. Phát triển các năng lực nào sau khi tham gia trải nghiệm?
2.4 Chuẩn bị sản phẩm trình bày của dự án
– Tổ chức trải nghiệm dưới hình thức trò chơi tại lớp
– Video trình nội dung bày chủ đề trải nghiệm
2.5 Xây dựng các tiêu chí đánh giá dự án     Yêu cầu chung:
– Kịch bản rõ ràng, chi tiết.
– Kế hoạch làm việc hợp lý, khả thi và đúng thời gian quy định.
– Phân công nhiệm vụ cho các thành viên trong nhóm hợp lí.
– Có hình ảnh minh họa quá trình làm việc nhóm.
– Tính tích cực, chủ động của cá nhân trong quá trình tham gia dự án.
– Tổ chức thực hiện trên lớp (quan trọng nhất)
Trên cơ sở yêu cầu cần đạt và đặc điểm của DA, tôi xây dựng các tiêu chí ĐG kết quả và quá trình học tập, đánh giá kiến thức và năng lực của HS, trong đó có tính đến những tiêu chí mà HS đề xuất trong giai đoạn xây dựng kế hoạch. Các tiêu chí ĐG được nhóm theo chủ thể của hoạt động đánh giá; đánh giá của GV, đánh giá hợp tác (HS giữa các nhóm đánh giá lẫn nhau), đánh giá đồng đẳng (HS trong cùng nhóm đánh giá lẫn nhau), tự đánh giá của HS.
a) Bảng tiêu chí của GV đánh giá nhóm và của HS đánh giá nhóm khác
S
T
TTiêu chíYêu cầu
Mức 1 Mức 2 Mức 3 Mức 4 Chú ý
1 – Kịch bản .
– Phân công nhiệm vụ hợp lí cho các thành viên trong – Thiếu  kịch bản.
– Chưa phân công nhiệm vụ cụ thể
– Nộp SP
– Có kịch bản nhưng chưa  chi tiết.
– Có phân – Kịch bản rõ ràng, chi tiết.
Có phân công nhiệm vụ – Kịch bản  sát chủ đề, hấp dẫn, lôi cuốn, rõ ràng và chi tiết. Tối đa 20đ

nhóm, nộp sản phẩm đúng thời gian quy định, thái độ làm việc của các thành viên sai quy định
– Thái độ làm việc chưa nghiêm túc
(tối  đa 5 điểm) công nhiệm vụ nhưng chưa cụ thể và hợp lí
– Nộp sản phẩm đúng thời gian quy định
– Một số thành viên chưa nghiêm túc
(tối đa 10 điểm) nhưng cụ thể cho từng thành
viên nhưng chưa thực sự hợp lí
– Một số thành viên chưa thực sự tích cực
– Nộp SP đúng quy định
(tối đa
15đ) – Có kế hoạch rõ ràng, phân công nhiệm vụ hợp lí.
– Nộp SP đúng quy định
– Các thành viên tích cực, trách nhiệm
(tối đa 20 điểm)
2 Mức độ hoàn thành dự án trải nghiệm – Có sản phẩm mới
đạt dưới 50% yêu cầu
– Thiếu minh họa.
(tối đa 20đ) – Có sản phẩm mới đạt 50-70% yêu cầu.
– Thiếu hình ảnh minh họa hoạt động trải nghiệm của nhóm.
(tối đa 30đ) – Sản phẩm đạt 70-90% mục tiêu /yêu cầu
– Có hình ảnh minh họa quá trình hoạt động của nhóm.
(tối đa
35đ) – Sản phẩm
đạt 90-
100% yêu cầu
– Có hình ảnh minh họa quá trình hoạt động của nhóm
(tối đa 40đ) Tối đa 40đ
3 Tổ chức thực hiện trên lớp (trình bày, báo cáo SP dự án) (Đảm bảo các thành viên đều hiểu vấn đề và hưởng ứng nhiệt – Trình bày không khớp với chủ đề, không hợp lý, không tạo được hứng thú cho các thành viên.  (tối đa 25đ) – Trình bày chưa rõ ràng, chưa đầy đủ, nhiều thành viên chưa nắm được vấn đề, thiếu tập trung. – Trình bày đúng chủ đề nhưng chưa mạch
lạc
– Chưa lôi cuốn được số đông  tập trung – Trình bày, hợp lý, đầy đủ, nổi bật được chủ đề và tạo được hứng thú cho số đông các thành viên lớp,  tạo được Tối đa 40đ
tình) (tối đa 30đ) vào hoạt động của nhóm.
(tối đa
35đ) dấu ấn trong buổi báo cáo(tối đa 40đ)

Tổng điểm Dưới 50 điểm 50-70 điểm 70-85 điểm 85-100 điểm Tối đa 100đ
b) Bảng tiêu chí của GV đánh giá cá nhân HS
Nội dung đánh giáĐiểm đánh giá (tối đa 100đ)
Mức 1
(10đ) Mức 2
(15đ) Mức 3
(20đ) Mức 4
(25đ)
1. Sự tiếp nhận và sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ
2. Sự tích cực, chủ động, sáng tạo, hợp tác
3. Tích cực tham gia trình bày, trao đổi, thảo luận

 

0/5 (0 Reviews)
0/5 (0 Reviews)

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

SKKN Giải pháp tiếp cận với dạy và học song ngữ bộ môn Toán
2012-11-09T17:00:00.000Z
TOÁN
4.5/5

100.000 

Theo dõi
Thông báo của
guest
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
Set your categories menu in Theme Settings -> Header -> Menu -> Mobile menu (categories)
Shopping cart

KẾT NỐI NGAY VỚI KIẾN EDU

Chúng tôi luôn sẵn sàng lắng nghe và đưa ra giải pháp phù hợp nhất cho vấn đề của bạn.

0886945229

Email

kienedu.com@gmail.com

Đây chỉ là bản XEM THỬ - khách hàng vui lòng chọn mua tài liệu và thanh toán để nhận bản đầy đủ

TẢI TÀI LIỆU

Bước 1: Chuyển phí tải tài liệu vào số tài khoản sau với nội dung: Mã tài liệu

Chủ TK: Ngô Thị Mai Lan

STK Agribank: 2904281013397 Copy
* (Nếu khách hàng sử dụng ngân hàng Agribank thì chuyển tiền vào STK Agribank để tránh bị lỗi treo giao dịch)
STK TPbank: 23665416789 Copy
tài khoản tpbank kienedu

Bước 2: Gửi ảnh chụp giao dịch vào Zalo kèm mã tài liệu để nhận tài liệu qua Zalo hoặc email

Nhắn tin tới Zalo Kiến Edu (nhấn vào đây để xác nhận và nhận tài liệu!)