SKKN Xây dựng lớp học hạnh phúc thông qua giảng dạy môn Ngữ văn

Giá:
100.000 đ
Cấp học: THPT
Môn: Ngữ Văn
Lớp: 11
Bộ sách:
Lượt xem: 972
File:
TÀI LIỆU WORD
Số trang:
35
Lượt tải:
7

Sáng kiến kinh nghiệm “SKKN Xây dựng lớp học hạnh phúc thông qua giảng dạy môn Ngữ văn” triển khai gồm các biện pháp nổi bật sau:

1. Mỗi bài giảng đều gắn với những câu chuyện, những tình huống thực tiễn trong cuộc sống để học sinh nhìn nhận, bày tỏ quan điểm của mình, từ đó phát huy tư duy phản biện…
2. Không tạo ra áp lực cho học sinh.
3. Tôn trọng cảm xúc của học sinh
4. Thực hiện các phương pháp dạy học mới
5. Đổi mới phương pháp giảng dạy

Mô tả sản phẩm

 

  1. MÔ TẢ SÁNG KIẾN 
  2. Tình trạng giải pháp đã biết

 Năm 2019, Bộ GD – ĐT đã chính thức phát động toàn quốc triển khai Kế hoạch nâng cao năng lực ứng xử sư phạm, đạo đức nhà giáo vì một trường học hạnh phúc. Thông điệp được Bộ GD – ĐT đưa ra là các cán bộ quản lý, các thầy cô giáo hãy thay đổi đến hướng đến môi trường sư phạm lành mạnh, văn minh, thân thiện, với giá trị cốt lõi: Yêu thương, an toàn và tôn trọng. Trong ba giá trị cốt lõi đó, khái niệm An toàn ở đây được hiểu bao gồm cả thể chất và tinh thần. Điều kiện cần của nó là trường học phải có tối thiểu những cơ sở vật chất, nhân lực để bảo đảm an toàn cơ bản. Tuy nhiên, điều kiện đủ lại là an toàn về tinh thần. Tuy nhiên, trong thực tế, nhiều giáo viên còn thiếu kĩ năng sống, chuyên môn chưa tốt nên lúng túng trong thực hiện nhiệm vụ. Chỉ khi người giáo viên yêu thương học trò bằng tất cả trái tim và tấm lòng nhân ái của mình, biết lan tỏa cho các em niềm tin và tình yêu vào cuộc sống, vào tương lai bằng chính những ứng xử đầy tính nhân văn của mình. Khi đó, mỗi lớp học, mỗi ngôi trường sẽ trở nên hạnh phúc, mỗi ngày đến trường của các con thực sự là một ngày vui. Môi trường học đường chỉ có thể hạnh phúc nếu các mối quan hệ được xây dựng và thực thi dựa trên yêu thương. Yêu thương bắt đầu từ sự thấu hiểu, sẻ chia với người khác mà không phải là sự ích kỉ, đơn phương thực hiện. Nếu trường học hạnh phúc được tạo bởi các hành vi ứng xử chuẩn mực của những thầy cô có đạo đức trong sáng, lòng yêu nghề và sự tận tâm tận lực với học sinh, tâm huyết với sự nghiệp…Lớp học hạnh phúc là lớp học được xây lên từ trái tim biết cho đi yêu thương của người giáo viên và chúng ta cũng sẽ nhận lại quả ngọt từ sự yêu thương đó. 

Trong chương trình giáo dục phổ thông ở nước ta, Ngữ văn là một môn học chính thức. Là môn học được tích hợp từ ba phân môn Văn, Tiếng Việt, Tập làm văn (trước đó ba phân môn này là ba môn độc lập, có SGK riêng) gồm hai phần ngữvăn gắn bó với nhau, bởi “ngôn ngữ là chất liệu làm nên văn học và văn học chính là nghệ thuật của ngôn ngữ”. Là môn học tích hợp, nhưng về cơ bản nó vẫn là môn học nghệ thuật (Văn vẫn chiếm tỉ trọng lớn nhất), đồng thời nó lại là môn học thực hành (Tập làm văn được học bài bản và hệ thống). Trên đại thể, có thể xem Ngữ văn là môn học về Cái Đẹp với hai khâu liên hoàn: cảm thụ Cái Đẹp trong văn chương (Văn), ngôn ngữ (Tiếng Việt) để tạo lập ra Cái Đẹp trong văn bản nói và viết (Tập làm văn). Đó chính là sợi dây liên kết gắn bó giữa môn học nghệ thuậtmôn học thực hành trong môn Ngữ văn với hai hoạt động chủ yếu: đọc hiểu văn bản tạo lập văn bản. Như vậy, với những đặc trưng trên đây, môn Ngữ văn sẽ hình thành và phát triển hai năng lực quan trọng cho thế hệ trẻ: năng lực thẩm mĩ năng lực ngôn ngữ. Năng lực thẩm mĩ là năng lực khám phá cái Đẹp trong văn chương và trong tiếng Việt để thưởng thức chúng; còn năng lực ngôn ngữ là năng lực làm chủ được tiếng Việt, biết sử dụng tiếng Việt một cách thuần thục để tạo lập văn bản (nói và viết) giúp cho việc diễn đạt, giao tiếp đạt hiệu quả. Hai năng lực này không tách rời nhau, mà có mối quan hệ gắn bó, tương hỗ để cùng phát triển… Ngữ văn không chỉ là môn học thực hành bình thường mang ý nghĩa tự thân mà nó còn có thêm yêu cầu hỗ trợ cho các môn khác trong việc diễn đạt để trở thành môn công cụ (giống như Toán là môn công cụ để hỗ trợ cho việc tính toán). Đây là môn học có nhiều khả năng và ưu thế nhất trong việc hình thành và phát triển hai năng lực này của người học. 

Thực tế, việc dạy và học Văn ở trên lớp không chỉ đơn thuần là quá trình truyền dạy của giáo viên và sự lĩnh hội tri thức của học trò mà còn là một quá trình tương tác qua lại có mục đích. Tuy nhiên, có không nhiều giáo viên đã từng đặt câu hỏi: Làm thế nào để dạy văn, học văn thực sự là khoảng thời gian hạnh phúc của cả cô và trò, làm thế nào để một giờ học học văn có thể góp phần xây dựng một lớp học hạnh phúc? Qua khảo sát, chúng tôi cũng chưa thấy có công trình nghiên cứu cụ thể, bài bản nào nhằm tìm ra giải pháp để xây dựng lớp học hạnh phúc thông qua giờ học môn Ngữ văn. 

  Để đánh giá đúng thực trạng dạy và học môn Ngữ văn trong bối cảnh nhà trường xây dựng phong trào trường học hạnh phúc – lớp học hạnh phúc, tôi đã tiến hành khảo nghiệm, khảo sát tài liệu học tập, kết quả kiểm tra, đánh giá HS tại trường THPT Nguyễn Huệ thông qua các tư liệu khảo nghiệm như phiếu thống kê, khảo sát, vở ghi chép, giáo án của đồng nghiệp… 

1.1. Hoạt động khảo nghiệm: 

Tiến hành khảo nghiệm tại 2 lớp 11 năm học 2020 – 2021 tại trường 

THPT Nguyễn Huệ 

–  Phiếu điều tra 

Tôi sử dụng phiếu thống kê kết quả bài làm văn định kì của học sinh  

1.2. Kết quả khảo nghiệm 

Căn cứ vào kết quả các phiếu thống kê mà tôi đã thực hiện như sau: 

Lớp  Yếu  Trung bình  Khá  Giỏi 
11D1  Số HS 50  20  15  15 
40%  30%  30% 
11D2  Số HS 48  25  10 
8,3%  52,08%  18,7%  20,92% 

 

1.3.  Kết  quả về việc xây dựng lớp học hạnh phúc thông qua hoạt động giảng dạy môn Ngữ văn tại trường THPT Nguyễn Huệ 

Từ năm học 2020 – 2021, Trường THPT Nguyễn Huệ thành phố Yên Bái đã triển khai xây dựng thí điểm mô hình Trường học hạnh phúc. Mục tiêu hướng đến xây dựng một ngôi trường mà ở đó học sinh đến trường không phải chỉ để học chữ, mà đến trường là để sống, để hạnh phúc, được phát triển toàn diện, trở thành chính mình, được che chở bởi môi trường học tập an toàn, được tôn trọng và được yêu thương.  

So với các môn học khác trong nhà trường, môn Ngữ văn là môn học vừa mang tính khoa học, vừa mang tính nghệ thuật. Theo PPCT do Bộ GD-ĐT ban hành, phần tuyển chọn các tác phẩm tiêu biểu của văn học Việt Nam và văn học nước ngoài, phong phú ở nhiều thể loại, phong cách, trải dài theo từng giai đoạn; tựu chung, xoay quanh chủ đề: Tình yêu nước, yêu quê hương; tình yêu con người, yêu thiên nhiên và các giá trị văn hóa. Các tác phẩm mang đậm tính nhân văn, hướng đến giáo dục thẩm mĩ. Bằng phương tiện ngôn từ nghệ thuật, tác phẩm văn học phản ánh diện mạo phong phú của hiện thực khả nhiên trong mọi thời đại, mọi nền văn hóa, bất chấp không gian, thời gian. Người đọc thấy được cả lý tưởng thẩm mĩ, thị hiếu thẩm mĩ, của chủ thể sáng tạo, của thời đại, hay một nền văn hóa, văn minh. Bản thân tác phẩm văn học là cái đẹp và sinh ra vì cái đẹp. Mọi mặt xấu xa, ác độc được phản ánh để bảo vệ cái đẹp, điều nhân văn. Học văn không phải chỉ là cách lĩnh hội tri thức mà còn là cách để thanh lọc tâm hồn, hướng thiện. Chính điều đó làm phong phú và ảnh hưởng sâu sắc đến thế giới tinh thần của người đọc. Mặt khác, quá trình tiếp nhận văn học là quá trình người đọc đồng sáng tạo, năng lực thẩm mĩ của chủ thể thưởng thức (học sinh) sẽ được bộc lộ và bồi dưỡng: tư tưởng, tình cảm, nhận thức, kinh nghiệm bản thân về cuộc sống…, với những biểu hiện cụ thể như thương yêu, cảm thông những nhân vật bất hạnh, nghèo khó; đồng thời căm tức, phê phán những thói hư, tật xấu…Người học nhìn nhận hiện thực khách quan bằng quy luật của cái đẹp. Ý thức thẩm mĩ đã được hình thành và bồi dưỡng khi người học tiếp xúc với tác phẩm. Cảm thụ tác phẩm văn học là hành trình khám phá, cảm thụ vẻ đẹp của ngôn ngữ tiếng Việt. Qua lớp vỏ ngôn từ, người đọc (học sinh) phát hiện ra cái đẹp, nảy sinh những rung động thẩm mĩ, rồi biết cảm nhận và đánh giá, thưởng thức cái đẹp. Khi đó, người đọc sống cùng tác phẩm, chuyển hóa cái đẹp của tác phẩm thành cội nguồn tinh thần của mình. Từ vẻ đẹp nghệ thuật của tác phẩm, nhận ra vẻ đẹp của cuộc sống (đánh giá cái đẹp đúng đắn nhất), biết yêu thương, đồng cảm với những cảnh đời, số phận. Tất cả những điều đó, theo quá trình, đúc kết thành lý tưởng thẩm mĩ in sâu trong tâm hồn, tạo thành nhân cách và biểu hiện bằng nhừng hành vi đẹp. Một giờ học văn hạnh phúc sẽ hình thành nhân cách tốt đẹp trong học sinh. Triết lý giáo dục của những tác phẩm văn chương sẽ tạo nên cộng đồng học sinh tử tế, tích cực, kỷ cương và có trách nhiệm với xã hội. Khi giờ học tôn vinh những giá trị tốt đẹp, như: Yêu thương và đồng cảm; Quan tâm và phục vụ; Bình đẳng và công bằng hay khuyến khích học sinh phát triển những thái độ như: Tích cực (tự tạo động lực); Dấn thân (tự đề ra thử thách); Cầu tiến (luôn phấn đấu để hoàn thiện)… thì học sinh sẽ có động lực thực hiện những hành vi đúng đắn mỗi ngày, biến sự ứng xử tử tế và giao tiếp lịch thiệp trở thành thói quen hằng ngày thì lớp học hạnh phúc sẽ được kiến tạo. 

Để có định hướng giảng dạy hiệu quả góp phần xây dựng lớp học hanh phúc, người giáo viên dạy văn cần hiểu biết toàn diện về vai trò của môn học này trong nhà trường THPT. Kết quả khảo sát giáo viên trong tổ chuyên môn cho thấy 100% giáo viên nhận thức đầy đủ vai trò của môn Ngữ văn. Xác định được tầm quan trọng của môn học là động lực thôi thúc giáo viên nỗ lực hoàn thành nhiệm vụ của mình. Trong khảo sát về các yếu tố chủ quan và khách quan chi phối chất lượng giảng dạy của người giáo viên dạy văn góp phần xây dựng lớp học hạnh phúc, tôi nhận được kết quả: 40% giáo viên cho rằng đó là năng lực và điều kiện cá nhân; 30% giáo viên cho rằng có sự phối hợp đồng bộ giữa giáo viên và học sinh; 20% giáo viên lựa chọn yếu tố có sự cộng tác, hỗ trợ từ giáo viên và học sinh; 10% giáo viên cho rằng phụ thuộc vào sự quan tâm của nhà trường và phụ huynh. Kết quả trên khẳng định chất lượng giảng dạy của giáo viên dạy ngữ văn chịu sự chi phối của cả yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan,trong đó yếu tố chủ quan- năng lực và điều kiện của giáo viên là yếu tố giữ vai trò quan trọng có ý nghĩa quyết định hơn cả.  

Trong khảo sát về giáo án của các đồng nghiệp: nhìn chung đều đã thể hiện được phần nào phát huy tính tích cực, năng động của người học, được kết tinh từ tâm huyết và trí tuệ của người giáo viên. Cũng theo khảo sát, giáo viên hạn chế chủ yếu về kỹ năng mà hạn chế phổ biến nhất ở giáo viên là việc thiên lệch về giảng dạy lý thuyết, ít tổ chức cho học sinh thực hành ngoại khóa, chiếm tới 40%. Một hạn chế khác thường gặp của giáo viên lên đến 30% là kỹ năng phối hợp, gắn kết môn Ngữ văn với các môn học khác. Do một số điều kiện chủ quan và khách quan, có 20% giáo viên chưa thể vận dụng công nghệ thông tin vào quá trình giảng dạy.  

1.2.3 Phân tích kết quả  khảo nghiệm, khảo sát 

Từ kết quả khảo nghiệm, khảo sát tôi rút ra được một số nhận xét về cách dạy của giáo viên và sự cảm thụ của học sinh trong một giờ học văn nhằm xây dựng một lớp học hạnh phúc. 

1.2.3.1 Đối với giáo viên:a

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

12
Lịch
4.5/5
TÀI LIỆU WORD

Quản lý
4.5/5
TÀI LIỆU WORD

100.000 

Theo dõi
Thông báo của
guest
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
Set your categories menu in Theme Settings -> Header -> Menu -> Mobile menu (categories)
Shopping cart

KẾT NỐI NGAY VỚI KIẾN EDU

Chúng tôi luôn sẵn sàng lắng nghe và đưa ra giải pháp phù hợp nhất cho vấn đề của bạn.

0886945229

Email

kienedu.com@gmail.com

Đây chỉ là bản XEM THỬ - khách hàng vui lòng chọn mua tài liệu và thanh toán để nhận bản đầy đủ

TẢI TÀI LIỆU

Bước 1: Chuyển phí tải tài liệu vào số tài khoản sau với nội dung: Mã tài liệu

Chủ TK: Ngô Thị Mai Lan

STK Agribank: 2904281013397 Copy
* (Nếu khách hàng sử dụng ngân hàng Agribank thì chuyển tiền vào STK Agribank để tránh bị lỗi treo giao dịch)
STK TPbank: 23665416789 Copy
tài khoản tpbank kienedu

Bước 2: Gửi ảnh chụp giao dịch vào Zalo kèm mã tài liệu để nhận tài liệu qua Zalo hoặc email

Nhắn tin tới Zalo Kiến Edu (nhấn vào đây để xác nhận và nhận tài liệu!)