SKKN Dạy học các chủ đề STEM trong chuyên đề “Vật Lí với giáo dục về bảo vệ môi trường” nhằm phát triển tư duy phản biện cho HS lớp 10

Giá:
100.000 đ
Cấp học: THPT
Môn: VẬT LÍ
Lớp: 10
Bộ sách: GDPT 2018
Lượt xem: 566
File:
TÀI LIỆU WORD
Số trang:
96
Lượt tải:
1

Sáng kiến kinh nghiệm “Dạy học các chủ đề STEM trong chuyên đề “Vật Lí với giáo dục về bảo vệ môi trường” nhằm phát triển tư duy phản biện cho HS lớp 10“triển khai gồm các biện pháp nổi bật sau:

II. Xây dựng tiến trình dạy học giáo dục STEM minh họa cho chủ đề “Thủy điện tích năng”

1. Tiến trình dạy học

2. Phiếu học tập

3. Tài liệu đọc

4. Rubric: Tiêu chí đánh giá

III. Xây dựng tiến trình dạy học giáo dục STEM minh họa cho chủ đề “Tuabin xoáy nước”, “Nhiệt điện than”, “Điện gió”.

Mô tả sản phẩm

CHƯƠNG 1: PHÁT TRIỂN TƯ DUY PHẢN BIỆN TRONG GIÁO DỤC STEM

 

I. Tổng quan về tư duy phản biện

1. Định nghĩa về tư duy phản biện

Tư duy phản biện là (1) quá trình tư duy của chủ thể (2) nhằm cải thiện không ngừng chất lượng cho câu trả lời của chính mình (3) thông qua việc đặt ra chuỗi câu hỏi và tự trả lời nó (4) để từ kiến thức, kinh nghiệm và những thông tin thu thập được (5) đưa ra giải pháp, lời giải thích, chứng minh, bảo vệ hay bác bỏ một vấn đề, một quan điểm nào đó.

Trong định nghĩa thể hiện năm ý chính: (1) quan niệm, (2) kết quả, (3) biểu hiện, (4) cơ sở và (5) mục đích như đã làm rõ ở trên. Chúng tôi minh họa bằng sơ đồ sau để làm rõ hơn định nghĩa tư duy phản biện sử dụng trong nghiên cứu này:

 

 

 

Hình 1: Cấu trúc tư duy phản biện.

Từ sơ đồ này, ta thấy tư duy phản biện không phải là một hành động đơn lẻ, không phải là một kĩ năng độc lập. Nó là một quá trình với nhiều bước, nhiều hành động và đòi hỏi nhiều kĩ năng. Các bước của quá trình này có sự lặp đi lặp lại nhằm cải thiện không ngừng chất lượng cho câu trả lời.

Câu trả lời ở đây dùng để gọi chung cho: giải pháp, phương án, lời chứng minh, bảo vệ, bài báo cáo,… Bản thân câu trả lời không phải thuộc tư duy phản biện, mà quá trình tìm ra câu trả lời mới là tư duy phản biện. Câu trả lời chỉ là kết quả cuối cùng của quá trình đó. Vì vậy khi đánh giá một người có tư duy phản biện hay không, cần chú ý vào quá trình tư duy thay vì chỉ đánh giá câu trả lời.

 

Hiện tượng và nguồn thông tin là những yếu tố bên ngoài của tư duy phản biện. Hiện tượng hay một ý kiến nào đó là điểm bắt đầu của quá trình tư duy phản biện, nó thể hiện cho bối cảnh cần đến tư duy phản biện. Nguồn thông tin sử dụng trong tư duy phản biện đến từ kiến thức cũ, kinh nghiệm của người học, hoặc thông qua quá trình tìm kiếm của người học. Bản thân thông tin cũng không phải tư duy phản biện, mà các thao tác với thông tin, cách ta sử dụng thông tin mới thuộc về tư duy phản biện. Sử dụng ở đây bao gồm nhiều thao tác mà đề tài sẽ đề cập cụ thể hơn ở mục biểu hiện của tư duy phản biện.

Đặt ra vấn đề (câu hỏi) là điểm bắt đầu của quá trình này nhưng cần hiểu các bước sau thực chất cũng là quá trình trả lời những câu hỏi cụ thể hơn để giải quyết vấn đề. Nhưng không phải câu hỏi nào được đặt ra từ tình huống, từ hiện tượng cũng là vấn đề. Sẽ có những tiêu chuẩn riêng cho các câu hỏi để nó trở thành vấn đề, và để cho quá trình đặt ra câu hỏi đó thuộc vào tư duy phản biện. Những tiêu chuẩn đó cũng sẽ được trình bày chi tiết trong mục biểu hiện của tư duy phản biện.

2. Hệ thống biểu hiện của tư duy phản biện

Thành tố Hành vi Mức độ biểu hiện

 

 

 

 

 

Đặt câu hỏi

(vấn đề) [1.1] Đặt được câu hỏi có liên quan đến tình huống, có tính khoa học và được diễn đạt theo nhiều phương thức khác nhau. M1: Đặt được câu hỏi có liên quan, đề cập đến và thể hiện được hiểu biết cơ bản về các đối tượng có trong tình huống.

M2: Đặt được câu hỏi có liên quan đến tình huống, thể hiện được bản chất của đối tượng, đưa ra sự so sánh, phân tích mối liên hệ giữa các đối tượng.

M3: Đặt được câu hỏi có liên quan đến tình huống, trong đó đưa ra ý kiến, quan điểm, gợi mở hoặc đề xuất giải pháp của bản thân.

Thiết lập tiêu chí/ tiêu chuẩn [2.1] Đề xuất được các tiêu chí có thể giúp xác định tính chất và đo đạc chất lượng của câu trả lời, của giải pháp. M1: Xây dựng được hệ thống tiêu chí một cách định tính, khái quát.

M2: Xây dựng được hệ thống tiêu chí, trong đó một số tiêu chí mang tính định lượng, hoặc chỉ ra các khả năng có thể của giải pháp, câu trả lời.

M3: Xây dựng được hệ thống tiêu chí mang tính định lượng, hoặc chỉ ra các khả năng có thể của giải pháp, câu trả lời. Những tiêu chí này có tính khả thi.

Tìm kiếm thông tin [3.1] Tìm kiếm được các thông tin liên quan, tin cậy và đầy đủ; phân biệt được thông tin và suy luận rút ra từ thông tin. M1: Thu thập được thông tin có liên quan.

M2: Thu thập được thông tin có liên quan và xác minh được độ tin cậy của hầu hết chúng.

M3: Thu thập được đầy đủ thông tin có liên quan và xác minh được độ tin cậy của chúng. Phân biệt được thông tin và

suy luận rút ra từ thông tin.

Suy luận

 

Xây dựng

tiên đề [4.1] Xây

dựng được tiên đề dựa trên các thông tin liên quan, tin cậy và đầy đủ. M1: Xây dựng được các tiên đề từ thông tin khai thác được.

M2: Xây dựng được các tiên đề từ thông tin khai thác được và xác minh độ tin cậy của chúng.

M3: Xây dựng được đầy đủ các tiên đề

từ thông tin khai thác được và xác minh độ tin cậy của chúng.

 

 

 

Kết luận [4.2] Đưa ra kết luận phù hợp tính logic và đánh giá tính chắc chắn của kết luận thu được. M1: Đưa ra được kết luận đầy đủ.

M2: Đưa ra được kết luận đầy đủ và hợp logic.

M3: Đưa ra được kết luận đầy đủ, hợp logic và đánh giá được độ chắc chắn của kết luận.

Tranh luận

 

Luận điểm [5.1] Đưa ra được các luận điểm một cách đầy đủ, chính xác. M1: Đưa ra luận điểm nhằm xác định đối tượng.

M2: Đưa ra luận điểm nhằm chỉ ra mối liên hệ, phụ thuộc của hai hay nhiều đối tượng.

M3: Đưa ra luận điểm nhằm tìm kiếm các giải pháp, câu trả lời thay thế.

Minh chứng [5.2] Đưa ra các minh chứng có hỗ trợ cho luận điểm, đầy đủ và chính xác. M1: Đưa ra các minh chứng có liên quan đến luận điểm.

M2: Đưa ra các minh chứng làm rõ cho luận điểm và xác minh được hầu hết chúng là tin cậy.

M3: Đưa ra các minh chứng làm rõ được cho luận điểm và đảm bảo toàn bộ là tin cậy.

 

 

Lập luận [5.3] Liên kết được giữa các minh chứng với luận điểm, đầy đủ và phù hợp. M1: Lập luận liên kết được một vài minh

chứng với luận điểm.

M2: Lập luận có tính khoa học, liên kết được hầu hết minh chứng với luận điểm.

M3: Lập luận có tính khoa học, phù hợp, liên kết được toàn bộ minh chứng với luận điểm.

 

 

Kết luận [5.4] Đưa ra được kết luận phù hợp với các luận điểm đã nêu. M1: Đưa ra được kết luận.

M2: Đưa ra được kết luận dựa trên một số luận điểm đã trình bày.

M3: Đưa ra kết luận phù hợp tính logic với toàn bộ luận điểm đã trình bày.

 

3. Vị trí, vai trò của tư duy phản biện

3.1. Tư duy phản biện trong Báo cáo năm 2020 của Tổ chức Kinh tế thế giới về Tương lai của các nghề nghiệp

Một trong những mục tiêu của giáo dục là cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cho thị trường lao động. Thế giới các ngành nghề đang thay đổi rất nhanh, đa dạng hơn về số lượng và đặt ra các yêu cầu ngày càng cao về chất lượng lao động. Người lao động cần phải có nhiều kĩ năng hơn để đáp ứng tốt với sự thay đổi đó. Nhu cầu về các ngành nghề đòi hỏi hàm lượng công nghệ cao được đẩy mạnh phát triển: điện toán đám mây, thương mại điện tử, internet kết nối vạn vật, big data, trí tuệ nhân tạo, mã hóa thông tin,… Trong khi đó các ngành nghề giảm về nhu cầu có thể kể đến như: kế toán, nhập liệu, công nhân trong dây chuyền sản xuất, quản trị nhân sự, đại diện bán hàng,…

Báo cáo cũng đề cập đến top 15 kĩ năng cần thiết trong 5 năm tới, tư duy phản biện nằm ở top 4, bên cạnh các kĩ năng quan trọng khác như: giải quyết vấn đề phức hợp, tư duy phân tích và sáng tạo, lãnh đạo,… Các kĩ năng này đã ở những vị trí đầu trong nhiều năm qua và sẽ còn giữ vị trí này trong thời gian đến.

Ngoài ra, trong hồ sơ kinh tế của các quốc gia xuất hiện trong báo cáo, tư duy phản biện cũng nằm trong nhóm các kĩ năng có nhu cầu phát triển ở mức cao, cần được đào tạo mới và đào tạo lại. Có thế kể đến như Úc, Canada, Pháp, Ấn Độ, Ý, Hoa Kì, Hà Lan, Nam Phi,… tư duy phản biện nằm trong top 4 kĩ năng cần chú trọng ở những quốc gia này.

Những dữ liệu này cho thấy tư duy phản biện được xem là một kĩ năng thiết yếu trong thị trường nghề nghiệp ở các quốc gia, đồng thời cũng là mục tiêu trong chiến lược đào tạo của những quốc gia đó. Và theo dự báo, tư duy phản biện vẫn sẽ là kĩ năng quan trọng mà người lao động cần trang bị để có thể hoàn thành tốt các công việc trong ít nhất là 5 năm đến.

Loại năng lực Phân loại cấp 1 Phân loại cấp 2 Phân loại cấp 3

Kiến thức

kĩ năng Đổi mới

sáng tạo Giải quyết vấn đề Tư duy phản biện

phân tích

Sử dụng logic và lí lẽ để xác định điểm manh và điểm yếu của giải pháp, kết luận, cách tiếp cận thay thế của vấn đề cũng như sử dụng kết quả của mình, của người khác, hoặc của các nhóm, tổ chức nhằm phát triển và đưa ra hành động đúng đắn

 

Hình 2: Vị trí và định nghĩa của tư duy phản biện trong báo cáo của diễn đàn

Kinh tế thế giới năm 2020.

Tóm lại, trong lĩnh vực nghề nghiệp, tư duy phản biện đóng một vai trò quan trọng. Nó là kĩ năng thiết yếu mà người lao động cần phải trang bị để có thể thích ứng với sự thay đổi nhanh và liên tục của các ngành nghề hiện nay. Vì thế, tư duy phản biện nằm trong nhóm các kĩ năng cần được quan tâm và nằm trong mục tiêu đào tạo, phát triển ở các trung tâm giáo dục và đào tạo nghề ở các quốc gia.

3.2. Tư duy phản biện trong Khung kĩ năng cho giáo dục thế kỉ XXI

P21 đã xây dựng Khung kĩ năng cho giáo dục thế kỉ 21 (P21’s Frameworks for 21st Century Learning) trên cơ sở thu thập dữ liệu từ giáo viên, chuyên gia giáo dục, và các lãnh đạo kinh tế nhằm xác định, chỉ rõ các kĩ năng và kiến thức mà người học cần có để thành công trong công việc và cuộc sống, cũng như hỗ trợ cho mục tiêu giáo dục của thế kỉ 21.

 

Hình 3: Khung kĩ năng cho giáo dục thế kỉ 21.

Cấu trúc của khung gồm: Phần cầu vồng và phần bệ đỡ.

Tư duy phản biện nằm trong nhóm Kĩ năng học tập và đổi mới (Learning & Innovation Skills) hay còn gọi là 4Cs. Bên cạnh nhóm kĩ năng 4Cs còn có hai nhóm khác là Kĩ năng sự nghiệp (Life & Career Skills) và Kĩ năng công nghệ thông tin (Information, Media & Technology Skills). Nhóm 4Cs là các kĩ năng cần thiết để người học chuẩn bị cho một cuộc sống và môi trường làm việc phức hợp và thay đổi không ngừng hiện nay. 4C là viết tắt của 4 kĩ năng: Sáng tạo và đổi mới (Creativity and Innovation), Tư duy phản biện và Giải quyết vấn đề (Critical Thinking and Problem Solving), Giao tiếp (Communication), Hợp tác (Collaboration).

0/5 (0 Reviews)
0/5 (0 Reviews)

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

Theo dõi
Thông báo của