Logo Kiến Edu

SKKN Một số giải pháp phát triển năng lực tin học của học sinh khi tìm hiểu về kiểu dữ liệu có cấu trúc trong chương trình Tin học 11

Giá:
100.000 đ
Cấp học: THPT
Môn: Tin học
Lớp: 11
Bộ sách:
Lượt xem: 420
File:
TÀI LIỆU WORD
Số trang:
24
Lượt tải:
7

Sáng kiến kinh nghiệm SKKN Một số giải pháp phát triển năng lực tin học của học sinh khi tìm hiểu về kiểu dữ liệu có cấu trúc trong chương trình Tin học 11 triển khai gồm các biện pháp nổi bật sau:

2.2.1. Giải pháp giảng dạy kiểu mảng một chiều
2.2.2. Giải pháp giảng dạy kiểu xâu
2.2.3. Giải pháp giảng dạy kiểu tệp
2.2.4. Giải pháp giảng dạy nội dung về chương trình con
2.2.4.1. Phân biệt các loại chương trình con
2.2.4.2. Tìm hiểu về thủ tục (Procedure)
2.2.4.3. Tìm hiểu về hàm (Function)
2.2.4.4. Truyền tham số cho trương trình con, phân biệt tham trị và tham biến

Mô tả sản phẩm

II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP SÁNG KIẾN
1. Tình trạng các giải pháp đã biết
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục đề cao vai trò của giáo dục, coi giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu. “Xây dựng đồng bộ thể chế, chính sách để thực hiện có hiệu quả chủ trương giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực then chốt để phát triển đất nước”. Quan điểm này vừa khẳng định hai lĩnh vực được xác định là quốc sách hàng đầu đó là giáo dục, đào tạo và khoa học, công nghệ; đồng thời phản ánh mối quan hệ biện chứng giữa giáo dục, đào tạo với khoa học, công nghệ. Chính vì vậy, môn Tin học trở thành một môn học có nhiệm vụ và vai trò vô cùng quan trọng trong việc thực hiện nhiệm vụ trên. Môn Tin học giữ vai trò chủ đạo trong việc chuẩn bị cho học sinh khả năng tìm kiếm, tiếp nhận, mở rộng tri thức và sáng tạo trong thời đại thông tin, kết nối và toàn cầu hóa; hỗ trợ đắc lực học sinh tự học và tập nghiên cứu; tạo cơ sở vững chắc cho việc ứng dụng công nghệ kĩ thuật số, phục vụ phát triển nội dung kiến thức mới, triển khai phương thức giáo dục mới và hiện đại cho tất cả các môn học. Hiện nay, trong lý luận dạy học sử dụng khá nhiều phương pháp và kỹ thuật dạy học như: dạy học dự án, dạy học giải quyết vấn đề, dạy học hợp tác, dạy học khám phá… Theo các phương pháp trên cũng có nhiều cách thiết kế kế hoạch dạy học để phát triển năng lực tin học một cách hiệu quả. Trong đó, việc phát triển năng lực tin học với các thành phần năng lực như giải quyết vấn đề với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin và truyền thông; ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong học và tự học có thể thực hiện với học sinh thông qua việc học Pascal. Tuy nhiên, trong thực tế giảng dạy hiện nay cho thấy hầu hết học sinh lúng túng trong quá trình học tập do đặc thù của môn Tin học là một môn có kiến thức trừu tượng, đặc biệt là môn Tin học lớp 11 với một số phần như kiểu mảng, kiểu xâu, kiểu tệp và chương trình con. Một số giáo viên chưa tìm ra được phương pháp phù hợp để có thể truyền đạt kiến thức cũng như giúp học sinh tìm ra được những kiến thức mới qua các bài học của môn Tin học 11, dẫn đến học sinh tiếp thu một cách thụ động, không có hứng thú với môn Tin học vì cảm thấy khó. Giáo viên chưa biết cách đặt một vấn đề mang tính cởi mở để học sinh tiếp cận với nội dung mới và chưa nhấn mạnh khi giải một bài toán lớn và phức tạp thì cần phải chia nhỏ bài toán lớn đó ra thành các bài toán nhỏ hơn, mà dạy theo cảm tính và trình độ của mình, chưa tìm hiểu rõ năng lực của các đối tượng học sinh. Học sinh đa phần đã tiếp xúc với máy tính và môn Tin học nhưng chủ yếu là để giải trí và một số kiến thức tin học căn bản, còn với môn lập trình thì tư duy trừu tượng của các em còn hạn chế. Bài giảng của giáo viên đối với một số nội dung khó chưa có tính liên hệ với thực tế vì thế khó gây được hứng thú đối với học sinh trong việc tìm hiểu một kiến thức mới. Việc sử dụng tư liệu, đồ dùng dạy học của giáo viên đôi khi chưa hợp lý nên chưa đáp ứng nhu cầu của bài học. Cụ thể với những nội dung này, giáo viên cần sử dụng 1 máy vi tính để trình bày tiết dạy theo dạng trực quan và thực hành một số ví dụ về viết chương trình hoàn chỉnh nhằm giúp học sinh thấy ngay kết quả thực hành và cũng hình dung được cách sử dụng Chương trình để giải các bài toán. Từ đó các em sẽ thấy được nội dung bài học, ý nghĩa của từng phần cũng như các sử dụng dữ liệu hay câu lệnh cho việc viết chương trình nhất là đối với những bài toán phức tạp khi được giải trên máy tính. Như vậy khó khăn chung của một số nội dung này là: Giáo viên chưa tìm ra được phương pháp phù hợp, chưa nghiên cứu tổng quát về hệ thống kiến thức cơ bản, mối quan hệ giữa các kiến thức của bài này với bài khác, giữa các môn Tin học với Toán học, với thực tế, chưa biết cách đặt tình huống cho các em tìm hiểu, thảo luận… Do đó học sinh không nắm rõ được các khái niệm cơ bản của kiểu mảng một chiều, kiểu xâu, kiểu tệp và chương trình con trong tin học, không phân biệt được điểm giống và khác nhau giữa chúng hoặc có nắm bắt được cũng chỉ là một cách chung chung, phiến diện, tiếp thu bài học một cách hời hợt và thụ động.
Xuất phát từ cơ sở trên, tôi đã chọn đề tài “Một số giải pháp phát triển năng lực tin học của học sinh khi tìm hiểu về kiểu dữ liệu có cấu trúc trong chương trình Tin học 11”, nhằm giúp các em biết cách tiếp cận với những nội dung đó ở một góc độ dễ hơn, trực quan hơn, từ đó hiểu rõ được ngữ nghĩa cũng như cách sử dụng các câu lệnh phù hợp để có thể tiếp thu tốt nội dung bài học và làm tốt các bài tập áp dụng, từ đó góp phần phát triển năng lực tin học của học sinh, đáp ứng các yêu cầu giáo dục hiện nay. Các giải pháp được trình bày dựa trên kinh nghiệm giảng dạy của bản thân và tham khảo một số tài liệu liên quan. 2. Nội dung giải pháp đề nghị công nhận là sáng kiến
2.1. Mục đích của (các) giải pháp:
– Nâng cao hiệu quả dạy học của giáo viên và tiếp thu kiến thức trong quá trình học tập của học sinh đối với môn học đòi hỏi tư duy sáng tạo như lập trình pascal, đặc biệt là phần dữ liệu kiểu cấu trúc. Tạo động cơ cho học sinh ý thức về ý nghĩa của các hoạt động khi thao tác tên dữ liệu có kiểu cấu trúc trong công việc lập trình. Từ đó, học sinh có thể liên hệ, vận dụng sáng tạo vào giải quyết các bài toán lập trình và các tình huống thực tế nhằm góp phần hình thành và phát triển năng lực trí tuệ chung cho học sinh THPT và năng lực tin học nói riêng. Trong quá trình học một vấn đề mới thì học sinh cần phải có sự liên hệ với những nội dung đã được học từ những bài trước, phân biệt được sự khác nhau về kiểu dữ liệu, về cấu trúc và về câu lệnh. Từ đó mới hình thành được khả năng tư duy và tiếp thu được nội dung mới của bài học. Vấn đề này được thể hiện khá rõ khi học tới nội dung kiểu mảng một chiều (là dãy hữu hạn các phần tử có cùng kiểu dữ liệu), kiểu xâu (có thể xem như mảng một chiều mà mỗi phần tử là một kí tự). Tệp (Tệp là một dãy các phần tử cùng kiểu được sắp xếp một cách tuần tự. Tệp dữ liệu được lưu trữ ở bộ nhớ ngoài dưới một tên nào đó. Tệp tập hợp trong nó một số phần tử dữ liệu có cùng cấu trúc giống như mảng nhưng khác mảng là số phần tử của tệp chưa được xác định).
Một nội dung khác là “Chương trình con và phân loại”. Học sinh cần hình dung được chương trình thường có những đoạn chương trình hay phép tính lặp lại nhiều lần. Nếu mỗi lần lặp lại, ta phải viết những đoạn lệnh như nhau thì chương trình trở nên dài dòng, rối rắm và mất thời gian vô ích. Để giải quyết những trường hợp như vậy, Pascal cho phép tạo ra các module, mỗi module mang một đoạn chương trình gọi là chương trình con (subroutine hay subprogram). Mỗi chương trình con sẽ mang một tên khác nhau. Một module chỉ cần viết một lần và sau đó có thể truy xuất nó nhiều lần, bất kỳ nơi nào trong chương trình chính. Khi cần thiết, ta chỉ việc gọi tên chương trình con đó ra để thi hành lệnh. Học sinh hiểu được việc sử dụng chương trình con, chương trình có thể tiết kiệm được ô nhớ. Đồng thời, có thể kiểm tra tính logic trong tiến trình lập trình cho máy tính điện tử, có thể nhanh chóng loại bỏ những sai sót khi cần hiệu chỉnh hay cải tiến chương trình. Đây là khái niệm cơ bản trong ý tưởng lập chương trình có cấu trúc. Một quá trình tính cũng có thể có nhiều chương trình con lồng ghép vào nhau.
– Sử dụng các ví dụ cụ thể nhằm giúp các em học sinh xử lý được một số bài tập ứng dụng, tăng sự yêu thích với môn học được mệnh danh là môn học khó nhất trong các môn học ở lớp 11. Qua đó, học sinh vận dụng được kiến thức của nhiều môn học khác nhau để giải quyết một vấn đề cụ thể, rèn cho học sinh phẩm chất: cẩn thận, chu đáo, sáng tạo và vận dụng các kỹ năng cần thiết để xử lý các tình huống gặp phải trong cuộc sống.
– Các giải pháp được áp dụng trong thời gian năm học đối với khối lớp 11
2.2. Nội dung (các) giải pháp
2.2.1. Giải pháp giảng dạy kiểu mảng một chiều
Bắt đầu từ kiểu dữ liệu có cấu trúc thì học sinh được tìm hiểu thêm một kiểu dữ liệu mới là kiểu mảng một chiều vì vậy giáo viên phải biết cách đặt vấn đề để học sinh hiểu rõ tại sao phải có kiểu dữ liệu đó, nếu không có dữ liệu đó mà chỉ cần những dữ liệu đã học thì có thể giải quyết được các bài toán hay không hay viết chương trình có tối ưu không. Cụ thể thực hiện như sau:
2.2.1.1. Hiểu ý nghĩa của kiểu mảng một chiều:
Bước 1: Tạo tình huống gợi vấn đề
GV: Với kiến thức đã học các em hãy viết một đoạn chương trình để nhập vào điểm trung bình của 2 học sinh.
HS: Viết đoạn chương trình bình thường
GV: Bây giờ hãy viết đoạn chương trình để nhập điểm trung bình của các học sinh trong lớp.
-> Khi học sinh làm bài sẽ nảy sinh tình huống có vấn đề ở đây là: số lượng biến khai báo khá nhiều và phải viết nhiều câu lệnh hoặc câu lệnh viết quá dài.
Bước 2: Trình bày vấn đề và đặt mục tiêu giải quyết
GV: Như vậy vấn đề gặp phải khi viết chương trình này là gì nếu như yêu cầu của chương trình là nhập vào điểm trung bình của học sinh toàn trường HS: Suy nghĩ và trả lời vì có nhiều biến phải khai báo:
Var x1, x2, x3, x4, x5, … :real;
Câu lệnh phải viết quá dài hoặc phải có nhiều câu lệnh
Readln(x1,x2,x3,x4,x5,…);
🡪 Chương trình sẽ không phù hợp với kiểu dữ liệu chuẩn đã học
GV: Để giải quyết vấn đề trên thì mục tiêu là cần phải có một kiểu dữ liệu mới phù hợp hơn, có đủ các phần tử để chứa được tất cả các giá trị khác nhau theo yêu cầu của bài, và chương trình được viết lại để phù hợp hơn.
Bước 3: Giải quết vấn đề:
GV: Đưa ra một đoạn chương trình để giải quyết vấn đề đã nêu là nhập điểm trung bình của các học sinh trong lớp bằng cách sử dụng kiểu mảng một chiều để học sinh quan sát được sự khác biệt với đoạn chương trình cũ:
Var A : array [1..50] of real; i : Byte;
Begin
for i:=1 to 42 do readln(A[i]);
……
Bước 4: Rút ra kết luận:
Từ vấn đề được giải quyết như trên thì việc cần phải tìm hiểu và sử dụng một kiểu dữ liệu mới là rất cần thiết đó là kiểu mảng một chiều, một kiểu dữ liệu có cấu trúc.
Bước 5: Vận dụng kiến thức để đặt ra nhiệm vụ tiếp theo:
GV: Tiếp tục vấn đáp, đặt câu hỏi để học sinh tìm hiểu về khái niệm mảng một chiều, cách khai báo, cách tham chiếu đến 1 phần tử, và cách duyệt qua các phần tử.
Có thể thuyết trình, vấn đáp để giải quyết các nội dung khái niệm mảng một chiều như sau:
GV: Đặt câu hỏi học sinh tìm hiểu về số lượng các phần tử và kiểu dữ liệu của các phần tử đó ở các ví dụ đã nêu
HS: Mong đợi học sinh sẽ nhận xét được như sau:
– Số lượng biến nhiều nhưng là số hữu hạn
– Mỗi phần tử đều có kiểu dữ liệu giống nhau
🡪 Dựa trên các vấn đáp đó học sinh có thể tự khái niệm được:“Mảng một chiều là dãy hữu hạn các phần tử cùng kiểu”.
2.2.1.2. Khai báo mảng một chiều:
Sách giáo khoa có khai báo cả hai cách. Trong đó cách trực tiếp giới thiệu trước và gián tiếp giới thiệu sau. Tuy nhiên nếu giới thiệu với học sinh theo trình tự này có thể làm cho học sinh bị thụ động trong cách khai báo vậy giáo viên có thể sử dụng phương pháp được dẫn chứng dưới đây để học sinh tự khai báo được một trong hai cách. Nhằm ghi nhớ sâu hơn việc khai báo biến mảng một chiều.
Bước 1: Tạo tình huống gợi vấn đề:
– Bắt đầu từ khai báo đã biết
Var <Tên biến> : <Kiểu dữ liệu>;
GV: Giả sử ngoài những kiểu dữ liệu đã học bây giờ ta có một kiểu dữ liệu mới dạng kiểu mảng có tên là DiemTrungBinh, và cho HS khai báo:
Var DTB : DiemTrungBinh;
Vấn đề ở đây là kiểu dữ liệu DiemTrungBinh là kiểu dữ liệu đã có chưa?, có được sử dụng không?
Bước 2: Trình bày vấn đề và đặt mục tiêu giải quyết:
GV: Ở đây điểm trung bình là một tên kiểu dữ liệu mà ta tự đặt ra, xem như đây là một kiểu dữ liệu có cấu trúc gồm nhiều phần tử đủ để chứa được điểm trung bình của các học sinh trong lớp.
Pascal hỗ trợ câu lệnh để chúng ta có thể định nghĩa tạo ra một kiểu dữ liệu như vậy đó là kiểu mảng một chiều Bước 3: Giải quyết vấn đề:
GV: Từ vấn đề được trình bày và đặt mục tiêu giải quyết ở trên. Ngôn ngữ lập trình Pascal cho phép chúng ta định nghĩa ra kiểu dữ liệu này bằng câu lệnh: Type <Tên kiểu mảng> = array [Kiểu chỉ số] of <kiểu phần tử>; Do phải định nghĩa trước và khai báo sau nên các câu lệnh sẽ được viết là:
Type <Tên kiểu mảng> = array [Kiểu chỉ số] of <kiểu phần tử>;
Var <Tên biến mảng> : <Tên kiểu mảng>;
🡪 Đây là cách thứ nhất để khai báo kiểu dữ liệu mảng một chiều.
Trong đó:
– Kiểu chỉ số có dạng: n1 . . n2 (n1, n2 là những số nguyên hoặc biểu thức nguyên và n1 ≤ n2)
– Kiểu phần tử là kiểu dữ liệu của từng phần tử trong mảng. Ví dụ:Type DiemTrungBinh = array [1..50] of real;
Var DTB : DiemTrungBinh;
GV: Cho học sinh quan sát kỹ và nhận xét về câu lệnh về cú pháp và ví dụ ở khai báo trên để HS phát hiện được có một đặc điểm giống như tính chất bắc cầu của các biểu thức.
HS: Mong đợi sẽ nhận xét được như sau:
<Tên biến mảng> : <Tên kiểu mảng>;
Mà <Tên kiểu mảng > = array [Kiểu chỉ số] of <kiểu phần tử>; Nên có thể thay thế câu lệnh trên bằng câu lệnh sau:
Var <Tên biến mảng> : array[Kiểu chỉ số] of <Kiểu phần tử>; 🡪 Đây là cách thứ hai để khai báo kiểu dữ liệu mảng một chiều.
Bước 4: Rút ra kết luận:
Như vậy với phương pháp giảng dạy đặt và giải quyết vấn đề như trên học sinh đã không cần phải phụ thuộc vào sách giáo khoa, mà chỉ cần nhớ kiến thức cũ và trải qua quá trình vấn đáp và suy nghĩ theo sự dẫn dắt của giáo viên các em cũng có thể hiểu rõ được vai trò của kiểu mảng một chiều, khái niệm được và khai báo được mảng một chiều một cách hoàn toàn tự nhiên, Tự viết ra được một cách khai báo trực tiếp từ gián tiếp. Học sinh sẽ cảm thấy hứng thú và nhớ bài ngay trên lớp.
2.2.1.3. Duyệt và tham chiếu các phần tử trong mảng một chiều:
Với nội dung này tôi xin trình bày vắn tắt các bước trong quá trình đặt và giải quết vấn đề như sau:
Bước 1: Tạo tình huống gợi vấn đề:
GV: Đặt tình huống là muốn đưa ra màn hình điểm trung bình của một học sinh nào đó hay đưa ra tất cả điểm trung bình của các học sinh ra màn hình thì phải làm thế nào.
HS: Mong đợi suy nghĩ:
Đưa ra màn hình tất cả: Sử dụng câu lệnh Write(DTB);
Còn đưa ra điểm của một học sinh: Chắc phải có một sự tham chiếu nào đó.
Bước 2: Trình bày vấn đề và đặt mục tiêu giải quyết:
GV: Từ suy nghĩ của học sinh giáo viên có thể thực hiện ngay câu lệnh mà học sinh suy nghĩ là Write(DTB). Tất nhiên trình biên dịch sẽ báo lỗi. Từ vấn đề đó giáo viên sẽ dẫn dắt để học sinh biết cách phải tham chiếu và xuất ra từng phần tử một theo đúng cú pháp
Tham chiếu: <Tên biến mảng>[<chỉ số>]
Chú ý đối với học sinh là: chỉ sổ ở trên có phục thuộc vào việc chọn kiểu chỉ số trong khai báo
Bước 3: Giải quyết vấn đề:
GV: Để học sinh viết câu lệnh xuất điểm của một học sinh nào đó từ khai báo đã ví dụ ở trên
HS: Sẽ viết được
Ví dụ: Write(DTB[4]:4:1); {Xuất điểm của học sinh thứ 4 trong lớp}
Hoặc xuất ra màn hình điểm của 40 học sinh trong lớp For i := 1 to 40 do write(DTB[i]:4:1); Bước 4: Rút ra kết luận:
GV: Nhấn mạnh việc thao tác trên mảng là phải thao tác với từng phần tử trong mảng, vì vậy yếu tố duyệt và cách tham chiếu đến các phần tử trong mảng có yếu tố quan trọng khi viết các chương trình có sử dụng kiểu dữ liệu mảng một chiều.
2.2.2. Giải pháp giảng dạy kiểu xâu
Bản chất của kiểu xâu là kiểu mảng một chiều mà mỗi phần tử là một kí tự. Dựa vào điều này giáo viên có thể sử dụng phương pháp đặt và giải quyết vấn đề mang tính gợi mở để học sinh có một cách tiếp cận tự nhiên từ kiến thức mới học đó là kiểu mảng một chiều. Tôi sẽ trình bày cụ thể các bước khi thực hiện giải pháp giảng dạy này như sau:
Bước 1: Tạo tình huống gợi vấn đề:
GV: Trình chiếu dãy các giá trị sau và gợi hỏi học sinh nhận xét về đặc điểm và bản chất của từng dãy:
1 4 2 8 5 9 3
2.56.15.04.37.2
TINHOC
Dãy A
Dãy B
Dãy C
HS: nhận xét:
Dãy A là dãy gồm 7 số nguyên
Dãy B là dãy gồm 5 số thực
Dãy C là dãy gồm 6 kí tự
Theo định nghĩa về kiểu mảng thì mỗi dãy trên đều gồm một số hữu hạn các phần tử có cùng kiểu dữ liệu nên các dãy trên đều có thể xem là mảng một chiều.
Như vậy, từ nhận xét trên thì có một vấn đề nảy sinh từ kiến thức mảng một chiều đó là dãy A và dãy B thì quen thuộc nhưng ở dãy C thì mỗi phần tử ở đây là một kí tự.
Bước 2: Trình bày vấn đề và đặt mục tiêu giải quyết:
GV: Đặt câu hỏi gợi mở cho học sinh suy nghĩ và nhận xét về dãy C. Đây là dãy gồm các kí tự, hay còn gọi là một xâu kí tự, vậy các em có suy nghĩ gì khi làm việc với dãy này? Về cách để xuất giá trị của dãy này ra màn hình? Ví dụ như xuất ra họ và tên của một học sinh, có bắt buộc phải xuất từng kí tự không? Rồi khi xử lí dãy này như muốn in hoa, muốn xóa bớt kí tự, muốn sao chép một số kí tự,… điều đó có khó khăn không?…
HS: Với một số các câu hỏi đặt ra của giáo viên thì mong đợi học sinh sẽ có những suy nghĩ đó là nếu như xem đây là mảng một chiều thì việc thực hiện những vấn đề nêu trên sẽ rất khó khi thực hiện.
Đặt mục tiêu giải quyết vấn đề trên là liệu có một quan niệm khác cho dãy C hay không, đó là không xem dãy C là mảng một chiều. Và ngôn ngữ lập trình Pascal đã hỗ trợ một kiểu dữ liệu mới là kiểu xâu, và khi chúng ta làm việc với dãy C như là một kiểu dữ liệu xâu mà không phải là mảng một chiều thì các vấn đề đặt ra ở trên sẽ được giải quyết khá là dễ dàng. Và để thực hiện với kiểu dữ liệu xâu này thì sẽ phải tìm hiểu một số nội dung là khai báo như thế nào và có những thao tác cơ bản nào trên kiểu dữ liệu xâu.
Từ đây, học sinh đã có thể hiểu được các kiến thức sau:
– Bản chất của kiểu xâu là kiểu mảng một chiều mà mỗi phần tử là một kí tự.
– Hoàn toàn có thể thao tác với kiểu xâu như kiểu mảng, ví dụ như tham chiếu đến kí tự nào đó trong xâu.
– Kiểu xâu sẽ có nhiều thao tác xử lí đơn giản mà ngôn ngữ lập trình cung cấp sẵn các câu lệnh để xử lí (đó là các hàm và thủ tục xử lí xâu).
Bước 3: Giải quyết vấn đề:
* Nội dung 1: Khái niệm và khai báo:
GV: Để học sinh tự suy nghĩ và khái niệm về kiểu xâu từ cách mà giáo viên đã đưa ra tình huống ở trên:
HS: Khái niệm về kiểu dữ liệu xâu: Là mảng một chiều mà mỗi phần tử là một kí tự.
GV: Để sử dụng kiểu xâu thì phải khai báo kiểu xâu. GV đưa ra cú pháp khai báo.
Var <Tên biến xâu> : String[<độ dài lớn nhất của xâu>];
Trong đó, độ dài lớn nhất của xâu là số lượng kí tự tối đa mà xâu được khai báo muốn lưu trữ và không lớn hơn 255. Khi bỏ qua tham số này thì xâu sẽ chứa tối đa 255 kí tự.
HS: Tự lấy các ví dụ khai báo một số biến xâu. GV có thể đưa ra một số khai báo chưa đúng để học sinh nắm vững cách khai báo.
Ví dụ:
Var s : String[50]; s1,s2 : String [30]; s3 : String; {s3 có độ dài tối đa là 255 kí tự} * Nội dung 2: Tham chiếu đến các kí tự trong xâu:
GV: Lưu ý học sinh: bản chất là xâu là mảng một chiều nên tham chiếu tới kí tự cũng như tham chiếu tới các phần tử trong mảng một chiều. chỉ số của kí tự đầu tiên trong xâu luôn là 1.
HS: Tự tham chiếu đến các kí tự trong xâu :
Ví dụ: đưa ra màn hình một số kí tự trong dãy C (giả sử C là tên của biến
xâu)
Write(C[1]); {xuất ra màn hình kí tự ‘T’} Hay Write(C[4]); {xuất ra màn hình kí tự ‘H’} * Nội dung 3: Các thao tác xử lí xâu:
Các thao tác cơ bản gồm: Ghép xâu, so sánh xâu, các thủ tục delete, insert, hay các hàm copy, pos, length, upcase.
Với các thao tác trên thì quy trình giảng dạy của giáo viên cần thực hiện với trình tự sau:
Đặt vấn đề: Muốn có kết quả nào đó, ví dụ như nối họ đệm với tên, sắp xếp tên theo thứ tự, xóa một số kí tự trong xâu, …. Đó là các kết quả của các thao tác sẽ giới thiệu.
Giải quyết vấn đề:
GV: Thực hiện cú pháp các câu lệnh, các thủ tục và các hàm.

 

0/5 (0 Reviews)
0/5 (0 Reviews)

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

10.11
TIN HỌC
4.5/5
TÀI LIỆU WORD

100.000 

10
TIN HỌC
4.5/5
TÀI LIỆU WORD

100.000 

10
TIN HỌC
4.5/5
TÀI LIỆU WORD

100.000 

10
Tin học
4.5/5
TÀI LIỆU WORD

100.000 

Theo dõi
Thông báo của
guest
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
Set your categories menu in Theme Settings -> Header -> Menu -> Mobile menu (categories)
Shopping cart

KẾT NỐI NGAY VỚI KIẾN EDU

Chúng tôi luôn sẵn sàng lắng nghe và đưa ra giải pháp phù hợp nhất cho vấn đề của bạn.

0886945229

Email

kienedu.com@gmail.com

Đây chỉ là bản XEM THỬ - khách hàng vui lòng chọn mua tài liệu và thanh toán để nhận bản đầy đủ

TẢI TÀI LIỆU

Bước 1: Chuyển phí tải tài liệu vào số tài khoản sau với nội dung: Mã tài liệu

Chủ TK: Ngô Thị Mai Lan

STK Agribank: 2904281013397 Copy
* (Nếu khách hàng sử dụng ngân hàng Agribank thì chuyển tiền vào STK Agribank để tránh bị lỗi treo giao dịch)
STK TPbank: 23665416789 Copy
tài khoản tpbank kienedu

Bước 2: Gửi ảnh chụp giao dịch vào Zalo kèm mã tài liệu để nhận tài liệu qua Zalo hoặc email

Nhắn tin tới Zalo Kiến Edu (nhấn vào đây để xác nhận và nhận tài liệu!)