SKKN Thiết kế và tổ chức dạy học trực tuyến bài kiểu xâu – tin học 11 theo mô hình lớp học đảo ngược nhằm phát triển năng lực tự học và tự chủ cho học sinh

4.5/5

Giá:

100.000 đ
Cấp học: THPT
Môn: Tin học
Lớp: 11
Bộ sách:
Lượt xem: 378
File:
TÀI LIỆU WORD
Số trang:
65
Lượt tải:

9

Sáng kiến kinh nghiệm SKKN Thiết kế và tổ chức dạy học trực tuyến bài kiểu xâu – tin học 11 theo mô hình lớp học đảo ngược nhằm phát triển năng lực tự học và tự chủ cho học sinh triển khai gồm các biện pháp nổi bật sau:

2.1. Đặc điểm chương trình và sách giáo khoa Tin học 11
2.1.1.Về chương trình Tin học 11
2.1.2.Về sách giáo khoa Tin học 11
2.2. Nguyên tắc lựa chọn nôi dung dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược
2.3. Quy trình tổ chức dạy học trực tuyến theo mô hình “lớp học đảo ngược” trong dạy học Tin học 11 nhằm phát triển NLTH cho HS
2.4.Thiết kế bài giảng theo mô hình LHĐN
2.5. Đánh giá NLTH của HS trong dạy học theo mô hình LHĐN
2.5.1. Bảng mô tả các mức độ tương ứng với các biểu hiện của năng lực tự học
2.5.2. Xây dựng công cụ hỗ trợ đánh giá năng lực tự học của học sinh
2.5.3. Quy ước cách tính điểm và thang điểm đánh giá NLTH

Mô tả sản phẩm

PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lí do chọn đề tài
Với sự phát triển khoa học, công nghệ kĩ thuật hiện đại vào đầu thế kỉ XXI thì lượng tri thức của nhân loại tăng lên nhanh chóng. Cho dù nhà trường tốt đến mấy cũng không thể dạy đủ và dạy hết tri thức cho học sinh (HS), không thể đáp ứng hết nhu cầu học tập của người học cũng như đòi hỏi ngày càng cao của đời sống xã hội. Xã hội hiện đại đòi hỏi mỗi cá nhân phải chuẩn bị cho mình những hành trang nhất định để hội nhập và phát triển. Trong đó năng lực tự học (NLTH) là năng lực cốt lõi cần hình thành từ sớm cho mỗi cá nhân, nhất là trong độ tuổi HS. Vì vậy bồi dưỡng và phát triển năng lực tự học cho HS trong trường phổ thông là một công việc cực kì quan trọng và cấp thiết. Các em sẽ tự mình bồi đắp bằng nhiều con đường khác nhau để lĩnh hội và phát triển cho bản thân mình có thế giới quan và nhân sinh quan đúng đắn. Do vậy, nhà trường phải giúp cho từng HS thay đổi triệt để quan niệm và phương pháp học tập phù hợp với yêu cầu của thời đại, góp phần giúp các em hình thành và rèn luyện khả năng tự nghiên cứu và tự học suốt đời.
Dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược – Flipped Classroom là một trong những phương pháp dạy học hiện đại và đáp ứng được những yêu cầu nêu trên. Qua phương pháp dạy học này, người học sẽ phải tự tiếp cận kiến thức ở nhà, tự mình trải nghiệm, khám phá, tìm tòi các thông tin liên quan về bài học thay vì tiếp thu kiến thức một cách thụ động từ giáo viên. Mô hình này giúp việc học tập hiệu quả hơn, giúp người học tự tin hơn, làm chủ quá trình học tập của chính bản thân mà không  còn bị động, phụ thuộc trong quá trình khám phá tri thức.
Qua nghiên cứu chương trình và thực tiễn dạy học cho thấy, môn Tin học lớp 111 có khối lượng kiến thức lớn, có nhiều kiến thức khó và mang tính trừu tượng đối với HS, môn học đòi hỏi HS cần có ý thức tự học, tự đào sâu và tìm tòi kiến thức ở ngoài giờ học. Do đó, việc phát triển NLTH của HS thông qua cải tiến những hình thức dạy học  truyền thống và tìm kiếm những phương pháp dạy học mới mẻ, hấp dẫn là một điều hết sức cần thiết. Nhất là trong thời điểm dịch bệnh COVID-19 diễn ra phức tạp, đã tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội, trong đó có hoạt động giáo dục ở các nhà trường. Trong hoàn cảnh như vậy, việc tổ chức trên không gian mạng qua phương thức dạy học trực tuyến cách thức quan trọng để ứng phó với diễn biến phức tạp của dịch bệnh theo phương châm “Ngừng đến trường nhưng không ngừng học”
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Thiết kế và tổ chức dạy học trực tuyến bài Kiểu xâu – Tin học 11 theo mô hình “Lớp học đảo ngược” nhằm phát triển năng lực tự học và tự chủ cho học sinh”.  Thực hiện đề tài này chúng tôi tổ chức các hoạt động học tập theo mô hình lớp học đảo ngược với mục đích tạo môi trường học tập tiên tiến dựa trên sự tương tác hiệu quả của CNTT góp phần nâng cao kiến thức về các vấn đề Tin học đồng thời rèn luyện và phát triển năng lực tự học cho học sinh THPT.

2. Mục đích nghiên cứu
– Nghiên cứu và áp dụng mô hình “Lớp học đảo ngược” trong thiết kế và tổ chức dạy học Tin học 11 nhằm phát triển năng lực tự học và tự chủ của HS THPT.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
– Mô hình lớp học đảo ngược (Flipped Classroom) trong hoạt động học tập trực tuyến bài “Kiểu xâu” Tin học 11.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
– Phạm vi không gian: Đề tài được triển khai nghiên cứu cho HS khối 11 tại trường THPT Đô Lương 2, tỉnh Nghệ An.
– Phạm vi nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược để đề xuất quy trình thiết kế và tổ chức trong dạy học trực tuyến Tin học lớp 111- THPT và xây dựng công cụ đánh giá NLTH.
– Thời gian nghiên cứu: Đề tại thực hiện trong hai năm học, năm học 2020 – 2021 và 2021- 2022
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Sáng kiến kinh nghiệm này nghiên cứu các nội dung sau đây:
– Nghiên cứu những cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài
– Phân tích số liệu khảo sát thực trạng sử dụng mô hình lớp học đảo ngược nhằm phát triển năng lực tự học trong dạy học Tin học 11.
– Đề xuất quy trình dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược.
– Xây dựng các kế hoạch dạy học dựa trên mô hình lớp học đảo ngược nhằm phát triển năng lực tự học trong dạy học Tin học 11.
– Thiết kế bộ công cụ đánh giá năng lực tự học ứng dụng thực tế và hiệu quả mô hình đã đề ra.
– Thông kê, phân tích xử lí số liệu từ thực nghiệm sư phạm.
5. Phương pháp nghiên cứu
Chúng tôi sử dụng các phương pháp sau để nghiên cứu:
5.1. Nghiên cứu lí luận
– Nghiên cứu những cơ sở lí luận về mô hình LHĐN, NLTH. Phân tích và hệ thống hóa các tài liệu có liên quan đến đề tài trong các sách, báo chí, internet…
– Nghiên cứu cấu trúc chương trình, chuẩn kiến thức, kĩ năng, SGK, các tài liệu liên quan đến kiểu xâu.
– Nghiên cứu các tài liệu liên quan đến phương pháp dạy học đặc biệt là mô hình LHĐN để đề xuất quy trình, các biện pháp tổ chức dạy học nâng cao NLTH cho HS.
5.2. Nghiên cứu thực tế
– Điều tra bằng phiếu khảo sát để tìm hiểu thực trạng sử dụng mô hình lớp học đảo ngược ở trường THPT với việc phát triển năng lực tự học cho HS.
– Thảo luận trao đổi ý kiến với các giáo viên giàu kinh nghiệm dạy môn Tin học về nội dung KT, phương pháp dạy học, hình thức tổ chức dạy học trong quá trình dạy học.
– Thăm dò ý kiến học sinh năng lực tự học sau khi học xong các tiết học vận dụng mô hình lớp học đảo ngược mà đề tài đưa ra.
5.3. Phương pháp toán học thống kê
– Sử dụng phương pháp toán học thống kê để xử lí kết quả điều tra về định lượng, chủ yếu tính điểm trung bình, tính phần trăm.
6. Điểm mới của đề tài nghiên cứu
– Tổng hợp, phân tích, hệ thông hóa các tài liệu góp phần làm sáng tỏ cơ sở lí luận về dạy theo mô hình LHĐN và phát triển NLTH.
– Điều tra, đánh giá được thực trạng việc sử dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học nhằm phát triển năng lực tự học cho HS THPT.
– Xác định được các tiêu chí và bộ công cụ đánh giá sự phát triển năng lực tự học cho HS THPT.
– Đề xuất được quy trình tổ chức dạy học trực tuyến theo mô hình lớp học đảo ngược nhằm phát triển năng lực tự học cho HS THPT.
– Thiết kế được kế hoạch bài dạy theo mô hình lớp học đảo ngược nhằm phát triển năng lực tự học cho HS THPT.
– Đánh giá được năng lực tự học của HS thông qua các tiêu chí và bộ công cụ đã xác định ở trên.
7. Cấu trúc của sáng kiến
Nội dung chính của đề tài được trình bày trong 3 chương, ngoài ra có phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục.
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn sử dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh.
Chương 2: Thiết kế kế hoạch dạy học trực tuyến theo mô hình lớp học đảo ngược nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh trong dạy học Tin học 11
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
PHẦN II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn sử dụng mô hình lớp học đảo ngược trong
dạy học nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh
1.1. Tổng quan về đề tài nghiên cứu.
Hiện nay trên thế giới có nhiều công trình sử dụng mô hình lớp học đảo ngược nghiên cứu đến các khía cạnh khác nhau của tự học và bồi dưỡng NLTH. Các tác giả đều khẳng định vai trò quan trọng của tự học và nhiệm vụ của GV là hướng dẫn, tổ chức, bồi dưỡng NLTH cho HS. Hoạt động dạy học là hoạt động đồng thời của cả GV và HS, dạy cho HS biết cách tự học được xem là hoạt động dạy tự học.
Mô hình lớp học đảo ngược ở nước ta mới được biết trong những năm gần đây, chủ yếu qua bài viết giới thiệu trên các trang web của các trường hoặc các cơ sở đào tạo, bài báo, tạp chí khoa học giáo dục… Trong các nghiên cứu về TH và bồi dưỡng NLTH sử dụng mô hình LHĐN đã được vận dụng và đạt được kết quả nhất định, nhưng chủ yếu là các nghiên cứu vận dụng dạy học trong các trường đại học. Ở các trường phổ thông, mô hình này cũng được nghiên cứu và áp dụng thử nghiệm
Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kĩ thuật đặc biệt CNTT thì mô hình lớp học đảo ngược đã và đang chứng tỏ sự phù hợp trong việc tạo ra môi trường học tập có khả năng bồi dưỡng và phát triển năng lực tự học tốt. Vì thế đề tài được chúng tôi nghiên cứu theo hướng đề xuất mô hình LHĐN kết hợp với dạy học trực tuyến với mục đích bồi dưỡng NLTH đối với môn Tin học ở trường THPT.
1.2. Tự học và năng lực tự học
1.2.1. Khái niệm tự học và năng lực tự học
Tự học là quá trình đòi hỏi người học phải nỗ lực tối đa, tích cực, chủ động, sáng tạo để chiếm lĩnh tri thức bằng hoạt động của chính mình nhằm đạt được mục đích đã đề ra từ trước.
– Theo Cao Xuân Phan (2018), NLTH là khả năng HS vận dụng một cách linh hoạt, chủ động những kiến thức, kỹ năng hiện có để thực hiện thành công nhiệm vụ học tập bằng cách tự lựa chọn và triển khai được các thao tác tác động vào nội dung bài học nhằm chiếm lĩnh tri thức, phát triển kỹ năng, kỹ xảo bản thân để đạt được mục tiêu học tập đã đề ra.
– Năng lực tự học cấp THPT gồm có các biểu hiện sau:
+ Xác định được mục tiêu học tập: HS tự xác định mục tiêu học tập chi tiết, cụ thể.
+ Lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch: HS lập kế hoạch học tập; tìm kiếm, lựa chọn nguồn tài liệu phù hợp; ghi chép thông tin đọc được; tự đặt được vấn đề học tập. + Đánh giá và điều chỉnh: HS tự nhận ra và điều chỉnh được những sai sót của mình trong học tập; rút kinh nghiệm để có thể vận dụng vào các tình huống khác.
Như vậy tự học là kết quả của sự tìm tòi, hứng thú nghiên cứu khoa học và lựa chọn phương pháp tự học đúng đắn phù hợp để đem lại kết quả cao, tạo ra nền tri thức bền bỉ cho người học.
1.2.2 Vai trò của tự học
Tự học giúp HS tự hoàn thiện và làm phong phú vốn kiến thức bằng sự nỗ lực tự tìm tòi, nghiên cứu. Trong quá trình đó HS sẽ gặp nhiều vấn đề mới và việc đi tìm lời giải đáp cho những vấn đề ấy là cách tốt nhất kích thích hoạt động trí tuệ.
Tự học còn có vai trò trong việc giáo dục, hình thành nhân cách cho HS. Việc tự học rèn luyện cho HS thói quen độc lập suy nghĩ, giải quyết vấn đề khó khăn trong học tậpvà cuộc sống giúp cho HS tự tin hơn. Hơn thế nữa, tự học thúc đẩy HS ham học, ham hiểu biết, khát khao vươn tới những đỉnh cao của khoa học, sống có hoài bão, ước mơ.
1.2.3. Cấu trúc năng lực tự học
Cấu trúc NL quá trình tự học của HS dựa theo quy trình của nhóm tác giả Griffin, Care và Harding (2015) Nguyễn Văn Biên được xây dựng gồm các bước sau:
Bước 1: Định nghĩa NLTH
Bước 2: Xác định các thành tố của NLTH
Năng lực tự học được cấu thành từ những thành tố sau:
-Xác định được mục tiêu học tập: Để đạt được kết quả học tập học sinh phải xác định nhiệm vụ học tập bằng cách đặt ra các mục tiêu chi tiết, cụ thể để đạt được kết quả đó, đồng thời vạch ra những khía cạnh yếu kém cần phải khắc phục.
-Lập kế hoạch và thực hiện cách học: Hình thành khả năng điều chỉnh và lập kế hoạch học tập cho riêng bản thân mình, tìm tài liệu phù hợp với mức đích và nhiệm vụ học tập khác nhau, sử dụng công cụ tìm kiếm trên các thư viện điện tử, hay thư viện sách…, chọn tư liệu phù hợp để hoàn thành nhiệm vụ học tập, biết cách ghi chép, ghi nhớ, bổ sung khi cần thiết, biết đặt vấn đề cho tình huống trong trong học tập và xử lí tình huống.
-Đánh giá và điều chỉnh việc học: là thành tố giúp học sinh nhận ra những sai sót và hạn chế của bản thân để điều chỉnh cho đúng, rút ra được kinh nghiệm cho bản thân để điều chỉnh cách học để có thể linh động vận dụng vào tình huống học tập khác. Các tiêu chí đánh giá đều được cụ thể hóa theo các mức độ khác nhau.
Bước 3: Thiết lập chỉ số hành vi biểu hiện và xây dựng các mức độ chất lượng
Mức độ tự lực, mức độ phức tạp và mức độ hoàn thiện hành vi là các tiêu chí được thiết lập để đánh giá mức độ chất lượng. (Xem bảng mức độ biểu hiện P1- phụ lục)
1.2.4. Các hình thức tự học
– Tự học hoàn toàn (không có GV); Tự học qua tài liệu hướng dẫn; Tự học có GV ở xa hướng dẫn qua phương tiện truyền thông
– Tự học dưới sự hướng dẫn chặt chẽ của GV (hay còn gọi là tự học có hướng dẫn):
+ Tự học ở nhà: GV định hướng một cách gián tiếp về phương pháp tự học và nội dung nghiên cứu. HS chủ động sắp xếp kế hoạch, chủ động, tích cực để hoàn thành những yêu cầu mà GV đưa ra.
+ Tự học trên lớp: GV hỗ trợ, hướng dẫn và tạo điều kiện cho HS nghiên cứu tự chiếm lĩnh tri thức mới. HS là chủ thể của quá trình nhận thức, tự giác, tích cực sáng tạo tham gia vào quá trình học tập
1.3. Mô hình lớp học đảo ngược
1.3.1. Khái niệm mô hình lớp học đảo ngược
Lớp học đảo ngược – Flipped classroom là một mô hình dạy học ở Mỹ trong khoảng 11 năm trở lại đây, diễn ra rộng rãi ở các bậc học phổ thông và đại học, đã làm đảo ngược cách dạy truyền thống. LHĐN và lớp học truyền thống mô phỏng cụ thể bằng hình minh họa sau:

Mô hình LHĐN có thể được hiểu là các hoạt động dạy học được thực hiện đảo ngược so với thông thường, HS sẽ tự tìm hiểu các kiến thức mới ở mức độ tư duy thấp theo định hướng của GV và hoàn thành nhiệm vụ học tập đó ở nhà, khi đến lớp HS sẽ chia sẻ, thảo luận và thực hiện các nhiệm vụ học tập ở mức tư duy cao, khám phá các chủ đề sâu hơn và tạo ra những cơ hội học tập thú vị dưới sự cố vấn, hỗ trợ của GV.
1.3.2. Vai trò, đặc điểm mô hình lớp học đảo ngược
* Vai trò
– HS được chủ động nghiên cứu bài giảng trước khi đến lớp, HS chủ động về thời gian và không gian học tập.
– Tương tác giữa GV và HS được nâng cao, có nhiều thời gian trên lớp cho sự trao đổi giữa HS –HS, HS- GV để giải đáp những thắc mắc chưa hiểu của bản thân, tạo sự chủ động trong học tập chứ không ép buộc làm theo yêu cầu của GV.
– Phù hợp với sự khác biệt giữa mỗi HS; Tạo ra bầu không khí học thực sự; Hình thức học tập linh động; HS có thể học nhiều lần; Nguồn tài liệu đa dạng nên HS có cơ hội tìm hiểu kiến thức sâu ngoài SGK.
* Đặc điểm
– Theo mô hình LHĐN đã được nghiên cứu và áp dụng, học sinh sẽ xem các bài giảng qua mạng, sách, tài liệu ở nhà. Tiết học ở lớp sẽ dành cho các hoạt động hợp tác giúp HS củng cố thêm các khái niệm mà HS đã tìm hiểu được. HS sẽ được chủ động trong việc tìm hiểu, nghiên cứu lý thuyết, các em có thể xem video bài giảng bất kỳ lúc nào, có thể dừng lại, ghi chú và xem lại (điều này là không thể nếu nghe giáo viên giảng dạy trên lớp). Lớp học giúp học sinh hiểu kỹ hơn về lý thuyết từ đó sẵn sàng tham gia vào các buổi học nhóm, bài tập nâng cao tại giờ học của lớp. Điều này giúp việc học tập hiệu quả hơn, giúp HS tự tin hơn về lượng KT mình đã có.
– Sáu mức độ nhận thức theo thang đo Bloom bao gồm ghi nhớ, thông hiểu, nhận biết, vận dụng, phân tích tổng hợp, đánh giá là cơ sở khoa học của mô hình lớp học đảo ngược. Ở ba mức độ đầu thì học sinh được thực hiện ở nhà dưới sự hướng dẫn của giáo viên giao nhiệm vụ học tập tự học KT mới, làm việc tại nhà các em để khi đến lớp các em cùng nhau chia sẻ tương tác với nhau.
Phương pháp học qua mô hình lớp học đảo ngược đòi hỏi HS phải dùng nhiều đến hoạt động trí não. Như vậy những nhiệm vụ bậc cao trong thang tư duy được thực hiện bởi cả thầy và trò.
1.3.3. Nguyên tắc tổ chức dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược
Nguyên tắc dạy học lấy học sinh làm trung tâm ở mô hình LHĐN luôn được đảm bảo, thời gian học ở lớp giúp học sinh chia sẻ, khám phá và tạo ra những cơ hội học tập thú vị, bổ ích về các tri thức khoa học về chủ đề học tập của mình. Việc truyền tải nội dung bài học thông qua nhiều kênh như những bài giảng giáo dục trực tuyến hoặc do giáo viên thiết kế.
Ứng dụng CNTT trong dạy học là điều kiện quan trọng để triển khai lớp học đảo ngược. Cụ thể, các công cụ CNTT sẽ hỗ trợ người học:
– Tạo cơ hội thảo luận, trao đổi và tương tác trong và ngoài lớp học, giúp HS nắm bắt được các nội dung chính một cách thuận lợi
– Các học liệu được trình bày phù hợp với phong cách, phương thức học khác nhau.
– Cung cấp thông tin kịp thời cho phép tạo các cảnh báo, cập nhật và nhắc nhở người học. Cung cấp thông tin phản hồi tức thì, ẩn danh cho người dạy và người học nhằm mục đích đánh giá và đánh giá cải tiến, điều chỉnh vì sự tiến bộ của người học.
– Cập nhập dữ liệu về sự tiến bộ và thành tích học tập của người học từ đó dự báo các khó khăn, thách thức đối với người học.
Nguyên tắc học nắm vững KT trong lớp học đảo ngược. Theo lớp học truyền thống, mỗi bài học trên lớp đều có lượng thời gian nhất định. Học sinh chưa nắm vững sẽ không có thêm thời gian để kịp hiểu bài. Nguyên tắc học nắm vững KT loại bỏ cách tiếp cận trên, thay vào đó yêu cầu mỗi học sinh nắm vững bài học trước khi chuyển sang bài khác. Ở lớp học đảo ngược, học sinh xem bài giảng và làm bài tập của mình khi họ đã nắm vững bài học.
1.3.4. Một số phần mềm hỗ trợ xây dựng lớp học đảo ngược
Có rất nhiều phần mềm có tính năng ưu việt hỗ trợ tổ chức lớp học đảo ngược hiệu quả như:
– Các phần mềm hỗ trợ thiết kế và biên tập nội dung dạy học: ispring, Avina Authoring Tools, canva, camtasia, quizizz, google form, MS form…
– Các phần mềm hỗ trợ tổ chức và triển khai hoạt động dạy học và giáo dục: PowerPoint, Classpoint, MS Teams, Moodle LMS, Google Meet, MS Team, Zoom, Padlet, FreeMind…
– Các phần mềm hỗ trợ kiểm tra, đánh giá: Quizlet, Kahoot, Plickers, Google Docs…
– Các phần mềm hỗ trợ quản lí lớp học và phản hồi người học: Facebook, OneNote, Skype, Zolo, Messenger, Goole Mail, MS Team, MS Outlook…
Trong sáng kiến này chúng tôi sử dụng công cụ Ms team kết hợp với Facebook nhóm, Zalo, Group Mail, Classpooint,… để xây dựng lớp học đảo ngược.
1.4. Thực trạng dạy học áp dụng mô hình lớp học đảo ngược nhằm phát triển năng lực tự học ở một số trường THPT trên địa bàn.
Để tìm hiểu thực trạng dạy học sử dụng mô hình LHĐN và thực trạng phát triển NLTH của HS tại các trường THPT trên địa bàn huyện Đô Lương tỉnh Nghệ An phục vụ cho quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài. Chúng tôi đã tiến hành khảo sát 17 GV và 368 HS tại 05 trường THPT (Đô Lương 1, Đô Lương 2, Đô Lương 3, Đô Lương 4 và dân lập Duy Tân) từ tháng 10/2020 với nhiều phương pháp nghiên cứu  như: phương pháp nghiên cứu lí luận, phương pháp thống kê toán học, phương pháp điều tra bằng bảng hỏi,… kết quả khảo sát như sau:
1.4.1. Kết quả khảo sát học sinh
Chúng tôi tiến hành điều tra, thu thập, phân tích xử và những kết quả được thể hiện qua bảng tổng hợp số liệu, biểu đồ và nhận xét kết quả.
(Xem phiếu khảo sát P2 – phụ lục)
1.4.1.1. Về phương pháp học tập Tin học hiệu quả

Qua biểu đồ 1.1. cho thấy học sinh đã ý thức được tầm quan trọng của việc tự học. Tuy nhiên, tự học bằng cách học như thế nào để đem lại hiệu quả cao thì các em chưa biết. Vì vậy giáo viên cần có định hướng biện pháp cụ thể để phát triển năng lực tự học cho học sinh.
1.4.1.2. Đánh giá kĩ năng tự học của bản thân HS

Biểu đồ 1.2 Đánh giá kĩ năng tự học của bản thân
Qua khảo sát cho thấy hoạt động học tập của học sinh rất thụ động, máy móc, nhiều học sinh chưa có kĩ năng tự học hay chưa biết tới kĩ năng tự học như thế nào. Đặc biệt đa số học sinh khai thác tài liệu học tập bằng phương tiện công nghệ thông tin, 64% HS cho rằng mình chưa có kĩ năng tự kiểm tra đánh giá kết quả học tập, 63% HS chưa có kĩ năng lập kế hoạch học tập, 44,6% HS nắm được kĩ năng nghe giảng, ghi chép nhưng ở mức độ chưa cao và có đến 42,9% chưa nắm được kĩ năng trình bày suy nghĩ, ý tưởng trước lớp.
1.4.1.3. Đánh giá vai trò tự học của bản thân HS

Biểu đồ 1.3 Vai trò quan trọng của NLTH đối với HS (%)
Qua biểu đồ trên cho thấy HS đều đánh giá cao vai trò của TH đối với học tập. Có 23% cho rằng TH rất quan trọng, 47,9% cho rằng cần thiết phải có năng lực TH, bên cạnh đó 18,8% HS thấy năng lực TH là bình thường, còn lại 10,3% HS cho rằng không cần thiết phải TH.
1.4.1.4. Ứng dụng CNTT, truyền thông trong tự học môn Tin học
STT Mục đích sử dụng Internet Mức độ
Thường xuyên Thỉnh thoảng Rất ít Không sử dụng
1 Đọc tin tức, giải trí 78 18,2 3,8 0
2 Trao đổi mail, facebook… 76,1 12,5 11,4 0
3 Tra cứu tài liệu học tập 9,8 32,9 12,5 44,8
4 Tham gia khóa học trực tuyến 15,2 12,5 26,6 45,7
5 Tìm các tài liệu để mở rộng hiểu biết, những hiện tượng thực tế liên quan đến vấn đề đang học 7,1 19,8 15,2 57,9
Bảng 1.1 Mục đích và mức độ sử dụng internet

 

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

10
Tin học
4.5/5
TÀI LIỆU WORD

100.000 

10
Tin học
4.5/5
TÀI LIỆU WORD

100.000 

Theo dõi
Thông báo của
guest
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
Set your categories menu in Theme Settings -> Header -> Menu -> Mobile menu (categories)
Shopping cart

KẾT NỐI NGAY VỚI KIẾN EDU

Chúng tôi luôn sẵn sàng lắng nghe và đưa ra giải pháp phù hợp nhất cho vấn đề của bạn.

0886945229

Email

kienedu.com@gmail.com

Đây chỉ là bản XEM THỬ - khách hàng vui lòng chọn mua tài liệu và thanh toán để nhận bản đầy đủ

TẢI TÀI LIỆU

Bước 1: Chuyển phí tải tài liệu vào số tài khoản sau với nội dung: Mã tài liệu

Chủ TK: Ngô Thị Mai Lan

STK Agribank: 2904281013397 Copy
* (Nếu khách hàng sử dụng ngân hàng Agribank thì chuyển tiền vào STK Agribank để tránh bị lỗi treo giao dịch)
STK Vietcombank: 1037627258 Copy
vietcombank

Bước 2: Gửi ảnh chụp giao dịch vào Zalo kèm mã tài liệu để nhận tài liệu qua Zalo hoặc email

Nhắn tin tới Zalo Kiến Edu (nhấn vào đây để xác nhận và nhận tài liệu!)