SKKN Lựa chọn, xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập về thí nghiệm để nâng cao chất lượng bồi dưỡng HSG hóa 12 THPT

Giá:
100.000 đ
Cấp học: THPT
Môn: Hóa học
Lớp: 12
Bộ sách:
Lượt xem: 499
File:
TÀI LIỆU WORD
Số trang:
58
Lượt tải:
6

Sáng kiến kinh nghiệm “SKKN Lựa chọn, xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập về thí nghiệm để nâng cao chất lượng bồi dưỡng HSG hóa 12 THPT” triển khai các biện pháp như sau: 

Một số biện pháp bồi dưỡng HSG hoá học ở bậc THPT
a. Kích thích động cơ học tập của học sinh
* Hoàn thiện những yêu cầu cơ bản
* Xây dựng niềm tin và những kỳ vọng tích cực trong mỗi học sinh
* Làm cho học sinh tự nhận thức được lợi ích, giá trị của việc được chọn vào đội tuyển học sinh giỏi
b. Soạn thảo nội dung dạy học và có phương pháp dạy học hợp lý
c. Kiểm tra, đánh giá

Mô tả sản phẩm

PHẦN I. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nhân tài có vai trò rất quan trọng trong sự phát tri ển kinh tế – xã hội. Khi yếu tố này d ồi dào thì đất nước phát tri ển mạnh mẽ và ph ồn thịnh. Khi yếu tố này kém đi thì quyền lực đất nước bị suy thoái. Nh ững người giỏi có h ọc thức là m ột sức mạnh đặc biệt quan trọng đối với đất nước. Vìv ậy, để thực hiện thắng lợi công cuộc công nghi ệp hoá – hiện đại hoá, đạt được mục tiêu “dân giàu, nước mạnh”, và đưa nước ta “sánh ngang với các cường quốc năm châu trên thế giới”, bên cạnh nâng ca o dân trí, Đảng và Nhà nước ta luôn chú tr ọng đến bồi dưỡng và phát tri ển nhân tài. Trong đó, việc phát hi ện và b ồi dưỡng những học sinh có năng khiếu về các môn h ọc ngay ở bậc phổ thông là bước khởi đầu quan trọng để xây d ựng nguồn nhân tài tương lai cho đất nước. Nhiệm vụ này ph ải được thực hiện thường xuyên trong quá trình d ạy học, qua các k ỳ thi chọn và b ồi dưỡng học sinh giỏi các cấp.
Trong giảng dạy cũng như trong bồi dưỡng HSG, bài t ập về thínghi ệm có v ị trí h ết sức quan trọng. Nó không nh ững góp ph ần giúp h ọc sinh hiểu rõ v ề lý thuyết hóa h ọc, về các thao tác cũng như kĩ năng thực hành hóa h ọc, mà nó còn làm cho h ọc sinh phát tri ển năng lực tư duy. Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói: “Giáo dục ở nhà trường điều chủ yếu không ph ải là rèn trính ớ mà là rèn tríthông minh”. Tuy nhiên, hiện nay chưa có nhiều công trình nghiên c ứu về loại bài t ập này dùng b ồi dưỡng HSG một cách có h ệ thống.
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi xây dựng đề tài: “Lựa chọn, xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập về thí nghiệm để nâng cao chất lượng bồi dưỡng HSG hóa 12 THPT”.
2. Mục đích nghiên cứu
Lựa chọn, xây dựng và hệ thống hóa bài tập về thí nghiệm, qua đó sử dụng các bài tập đó để bồi dưỡng HSG hóa 12 THPT.
3. Nhiệm vụ của đề tài
– Nghiên cứu cơ sở lý luận có liên quan đến đề tài.
– Nghiên c ứu chương trình hoá học phổ thông
– Phân tích các đề thi HSG cấp tỉnh lớp 12.
– Nghiên c ứu cấu trúc đề thi HSG hóa 12 c ấp tỉnh Nghệ An.
– Tuyển chọn, xây dựng và sử dụng các dạng bài tập về thí nghiệm hoá học để bồi dưỡng HSG.
– Thực nghiệm sư phạm nhằm đánh giá hiệu quả của hệ thống các dạng bài
tập.

4. Giả thuyết khoa học
Nếu tuyển chọn, xây dựng cũng như sử dụng hệ thống bài tập về thí nghiệm có chất lượng thì sẽ nâng cao được chất lượng và hiệu quả trong quá trình bồi dưỡng HSG hoá 12 ở bậc phổ thông.
5. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu: Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 12 ở trường THPT trên địa bàn tỉnh Nghệ An.
Đối tượng nghiên c ứu: Các dạng bài tập về thí nghiệm để bồi dưỡng HSG hoá học 12.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
– Nghiên cứu cơ sở lý luận có liên quan đến đề tài.
– Nghiên cứu các tài liệu về thí nghiệm hóa học.
– Nghiên c ứu các tài li ệu về PPDH hoá h ọc, các chuyên đề đổi mới PPDH, các đề tài nh ằm phát tri ển tư duy của học sinh.
– Nghiên cứu cấu trúc, nội dung chương trình sách giáo khoa hoá học, tài liệu chuyên hoá và hướng dẫn nội dung thi chọn HSG tỉnh của sở giáo dục Nghệ An.
6.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
– Tìm hiểu quá trình dạy và bồi dưỡng HSG hoá học ở khối 12, từ đó đề xuất vấn đề cần nghiên cứu.
– Trao đổi, tổng kết kinh nghiệm về vấn đề bồi dưỡng HSG với các giáo viên có kinh nghiệm trong lĩnh vực này ở các trường phổ thông.
6.3. Thực nghiệm sư phạm
– Mục đích: Nhằm xác định tính đúng đắn của giả thuyết khoa học, tính hiệu quả của các nội dung đã đề xuất.
– Phương pháp xử lý thông tin: Dùng phương pháp thống kê toán học trong khoa học giáo dục.
7. Những đóng góp của đề tài
Về mặt lý luận:
Đề tài đã góp phần tuyển chọn, xây dựng được hệ thống các dạng bài tập về thí nghiệm hóa học tương đối phù hợp với yêu cầu và mục đích bồi dưỡng HSG hoá học lớp 12 ở trường phổ thông trong giai đoạn hiện nay.
Về mặt thực tiễn:
– Tuyển chọn cũng như xây dựng được hệ thống bài tập về thí nghiệm hóa học dùng để bồi dưỡng HSG hoá học lớp 12.
– Giúp cho học sinh và giáo viên có thêm tư liệu bổ ích trong học tập và trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi.

PHẦN II: NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1. Bài tập hoá học
1.1. Khái niệm bài tập hoá học
Hiện nay, bài tập hóa học được hiểu theo quan niệm của các nhà lý luận dạy học Liên Xô (cũ), đó là những bài toán, những câu hỏi hay đồng thời cả bài toán và câu hỏi thuộc về hóa học mà trong khi hoàn thành chúng, học sinh nắm được một tri thức hay kĩ năng nhất định.
1.2. Phân loại bài tập hóa học
Có nhiều cách phân loại bài tập hóa học khác nhau dựa trên các cơ sở khác nhau. Sau đây là một số cách phân loại:
– Dựa vào khối lượng kiến thức có thể chia thành bài tập cơ bản và bài tập tổng hợp.
– Dựa vào tính chất bài tập có thể chia thành bài tập định tính và bài tập định lượng.
– Dựa vào tính chất hoạt động của học sinh khi giải bài tập có thể chia thành bài tập lý thuyết và bài tập thực nghiệm.
– Dựa vào hình thức người ta có thể chia bài tập hoá học thành hai nhóm lớn: bài tập tự luận (trắc nghiệm tự luận) và bài tập trắc nghiệm (trắc nghiệm khách quan).
– Dựa vào nội dung có thể chia thành: Bài tập về thí nghiệm, bài tập về cấu tạo nguyên tử, bài tập về liên kết hóa học, bài tập về halogen, bài tập nhận biết các chất, bài tập điều chế các chất…
1.3. Tác dụng của bài tập hoá học
Bài tập hoá học là một trong những nguồn để hình thành kiến thức và kỹ năng mới cho học sinh. Bài tập hoá học giúp họ đào sâu, mở rộng kiến thức một cách sinh động, phong phú và hấp dẫn. Thông qua bài tập, học sinh phải tích cực suy nghĩ để tìm ra cách giải, từ đó hình thành được kỹ năng giải từng loại bài tập.
Thông qua giải bài tập hoá học, học sinh hình thành, rèn luyện và củng cố các kiến thức, kỹ năng. Bài tập là phương tiện hiệu nghiệm để học sinh vận dụng kiến thức vào thực tiễn, biến kiến thức của nhân loại thành của chính mình.
Bài tập hoá học là phương tiện hữu hiệu để rèn luyện và phát huy tư duy của học sinh. Khi giải bài tập hoá học, học sinh phải thực hiện các thao tác tư duy để tái hiện kiến thức cũ, tìm ra mối liên hệ bản chất giữa các sự vật, hiện tượng; phải phán đoán, suy luận để tìm ra lời giải.
Bài tập hoá học là phương tiện để phát huy tính tích cực, tự lực, chủ động, tính

thông minh, sáng tạo của học sinh. Học sinh tự tìm kiếm lời giải, tìm ra được các cách giải khác nhau và cách giải nhanh nhất cho từng bài tập cụ thể.
Bài tập hoá học là công cụ hữu hiệu để kiểm tra, đánh giá kiến thức, kỹ năng của học sinh. Việc giải bài tập của học sinh giúp giáo viên phát hiện được trình độ học sinh, thấy được những khó khăn, sai lầm học sinh thường mắc phải; đồng thời có biện pháp giúp họ khắc phục những khó khăn, sai lầm đó.
Bài tập hoá học còn có tác dụng mở mang vốn hiểu biết thực tiễn cho học sinh; giáo dục đạo đức, tư tưởng, giáo dục kỹ thuật tổng hợp, rèn luyện tác phong người lao động mới: làm việc kiên trì, khoa học, đặc biệt là tính cẩn thận, trung thực, tiết kiệm, độc lập, sáng tạo trong các bài tập thực nghiệm.
Trong quá trình dạy học hóa học ở trường phổ thông không thể thiếu bài tập, nó là một trong những phương tiện hiệu nghiệm cơ bản nhất để dạy học sinh tập vận dụng các kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống, sản xuất và tập nghiên cứu khoa học, là một biện pháp hết sức quan trọng để nâng cao chất lượng dạy – học, nó giữ một vai trò lớn lao trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo. Nó cung cấp cho học sinh kiến thức, con đường giành lấy kiến thức và cả hứng thú say mê nhận thức.
1.4. Quan hệ giữa bài tập hóa học và việc phát triển tư duy cho HS
Để giúp học sinh phát triển năng lực tư duy, mà đỉnh cao là tư duy sáng tạo, thì cần phải tập luyện cho học sinh hoạt động tư duy sáng tạo, mà đặc trưng cơ bản nhất là tạo ra những phẩm chất tư duy mang tính mới mẻ. Trong học tập hóa học, một trong những hoạt động chủ yếu để phát triển tư duy cho học sinh là hoạt động giải bài tập. Vì vậy, giáo viên cần phải tạo điều kiện để thông qua hoạt động này các năng lực trí tuệ được phát triển, học sinh sẽ có những sản phẩm tư duy mới, thể hiện ở:
– Năng lực phát hiện vấn đề mới.
– Tìm ra hướng đi mới.
– Tạo ra kết quả mới.
Để làm được điều đó, trước hết người giáo viên cần chú ý hoạt động giải bài tập hóa học, để tìm ra đáp số không phải chỉ là mục đích mà chính là phương tiện hiệu nghiệm để phát triền tư duy cho học sinh. Bài tập hóa học phải đa dạng, phong phú về thể loại và được sử dụng trong tất cả các khâu của quá trình dạy học như nghiên cứu tài liệu mới, ôn tập, luyện tập, kiểm tra … Thông qua hoạt động giải bài tập hóa học, các thao tác tư duy như so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa, … thường xuyên được rèn luyện và phát triển, các năng lực: quan sát, trí nhớ, óc tưởng tượng, suy nghĩ độc lập, … không ngừng được nâng cao, biết phê phán, nhận xét; tạo hứng thú và lòng say mê học tập, … để rồi cuối cùng tư duy của học sinh được rèn luyện và phát triển thường xuyên, đúng hướng, thấy được giá trị lao động, nâng khả năng hiểu biết thế giới của học sinh lên một tầm cao mới, góp phần cho quá trình hình thành nhân cách của học sinh.

1.5. Xu hướng phát triển của bài tập hóa học
Xu hướng phát triển của bài tập hóa học hiện nay hướng đến rèn luyện khả năng vận dụng kiến thức, phát triển tư duy hóa học cho học sinh. Những bài tập có tính chất học thuộc và nghèo nàn về nội dung hóa học sẽ giảm dần và được thay bằng các bài tập có nội dung hóa học phong phú, sâu sắc, đòi hỏi sự tư duy, tìm tòi.
1.6. Sử dụng bài tập trong quá trình dạy học hóa học
* Sử dụng BTHH để hình thành khái niệm hóa học
– Khi hình thành khái niệm GV thường nêu lên định nghĩa hoặc cho HS đọc định nghĩa rồi GV giải thích, qua đó mà HS ghi nhớ các dấu hiệu bản chất của nó.
– GV cũng cú thể lựa chọn, xây dựng hệ thống BTHH phù hợp để điều khiển hướng dẫn HS tư duy, tìm ra những dấu hiệu bản chất của khái niệm cần hình thành và phát biểu được khái niệm bằng ngôn ngữ hóa học. Sau đó GV chỉnh lí, phát biểu chính xác hóa khái niệm và tổ chức cho HS vận dụng khỏi niệm đó.
* Sử dụng các bài toán có nội dung biện luận để tăng cường tính suy luận cho HS khi học BTHH
Nhiều bài toán có phần tính toán rất đơn giản nhưng có nội dung biện luận hóa học phong phú, sâu sắc là phương tiện tốt để rèn luyện tư duy hoá học cho HS.
* Tăng cường sử dụng bài tập thực nghiệm
Khi giải bài tập thực nghiệm, học sinh phải biết vận dụng kiến thức để giải bằng lí thuyết sau đó tiến hành thí nghiệm để kiểm nghiệm tính đúng đắn của những bước giải bằng lớ thuyết và rút ra kết luận về cách giải.
* Tăng cường sử dụng bài tập thực tiễn
Việc tăng cường sử dụng bài tập thực tiễn trong các bài dạy giúp HS vận dụng các kiến thức hóa học để giải quyết các vấn đề thực tiễn có liên quan đến hóa học. thông qua việc giải các bài tập thực tiễn HS sẽ thấy việc học hóa học có ý nghĩa hơn, hứng thú hơn.
* Sử dụng sơ đồ, đồ thị trong việc giải, chữa bài tập
Dùng sơ đồ khi giải, chữa bài tập GV tiết kiệm được lời nói và thời gian vì nó là hình thức trình bày ngắn gọn nhất, cô đọng nhất, nổi bật được những dấu hiệu bản chất của các định nghĩa, các hiện tượng và khái niệm.
2. Hệ thống thí nghiệm hóa học ở trường phổ thông
Trong trường phổ thông, TN giúp HS làm quen v ới tính ch ất, mối liên h ệ và quan hệ có quy lu ật giữa các đối tượng nghiên c ứu, giúp HS làm cơ sở để nắm vững các quy lu ật, các khái ni ệm hóa h ọc và bi ết khai thác chúng. TN còn giúp HS sáng t ỏ mối liên h ệ phát s inh giữa các s ự vật, giải thích được bản chất của các quá trình mà trong th ực tế tự nhiên hoàn toàn không có được và k ết quả tạo ra chất mới. Nó giúp h ọc sinh khả năng vận dụng những quá trình nghiên c ứu trong nhà trường, trong phòng thínghi ệm vào các lĩnh vực hoạt động của con người.

Đối với bộ môn hóa h ọc. TN giữ vai trò đặc biệt quan trọng như một bộ phận không th ể tách r ời của quátrình d ạy học. TN giữ một vai trò quan tr ọng trong nhận thức, phát tri ển và giáo d ục của quá trình d ạy học. Người ta coi TN là cơ sở của việc học hóa h ọc và để rèn luy ện kĩ năng thực hành. Thông qua TN, HS n ắm kiến thức một cách h ứng thú, vững chắc và sâu s ắc hơn. TN hóa học được sử dụng với tư cách là nguồn gốc là xu ất xứ của kiến thức để dẫn đến líthuy ết, hoặc với tư cách k iểm tra giả thuyết.
Thí nghi ệm hóa h ọc còn có tác d ụng phát tri ển tư duy, giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng và c ủng cố niềm tin khoa học của học sinh, giúp hình thành nh ững đức tính t ốt của người lao động mới: Thận trọng, ngăn nắp, trật tự, gọn gàng.
3. Định hướng cải tiến hệ thống thí nghiệm hóa học ở trường phổ thông
-Tăng cường việc đảm bảo an toàn khi ti ến hành thínghi ệm.
– Đáp ứng yêu c ầu cơ bản của chương trình mới vàgóp ph ần phát tri ển phẩm chất và năng lực cho học sinh.
– Tăng cường các thínghi ệm mang tính tr ực quan.
– Gắn nội dung thínghi ệm với thực tiễn cuộc sống, sản xuất.
– Sử dụng các d ụng cụ thínghi ệm đơn giản giáthành h ạ, tiết kiệm hóa ch ất
– Lựa chọn các thínghi ệm dễ thực hiện, tiết kiệm thời gian trên l ớp
4. Học sinh giỏi và việc bồi dưỡng học sinh giỏi ở bậc THPT
4.1. Tầm quan trọng của việc bồi dưỡng HSG
Thường thì mỗi học sinh chỉ có năng khiếu ở một lĩnh vực nhất định nào đó. Bồi dưỡng học sinh giỏi tức là tạo ra một môi trường giáo dục đặc biệt phù hợp với khả năng đặc biệt của các em, ở đó các em được rèn kỹ năng để hoàn thành, phát triển tố chất năng kiếu của mình đồng thời nâng cao vốn kiến thức sẵn có và tiếp thu kiến thức mới. Có năng khiếu và có hệ thống kiến thức sâu rộng, vững chắc sẽ là tiền đề tốt để các em có thể đạt kết quả cao trong các kỳ thi mang đậm tính chất tranh tài như kỳ thi chọn học sinh giỏi cấp tỉnh/ thành phố và xa hơn nữa là cấp quốc gia.
Hơn thế nữa, hiện nay cuộc cạnh tranh về kinh tế, công nghệ giữa các quốc gia ngày càng trở nên khốc liệt mà bản chất của cuộc cạnh tranh ấy là tri thức, là trí tuệ con người. Chúng ta đang sánh vai với các cường quốc năm châu thì không có con đường nào khác là phải làm chủ được tri thức, làm chủ công nghệ. Và như thế, chìa khóa thành công đang cất giữ trong trường học. “Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai”, đào tạo, bồi dưỡng học sinh giỏi ngày hôm nay chính là góp phần đào tạo, bồi dưỡng nhân tài – nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước mai sau. Và chính họ sẽ góp phần rút ngắn khoảng cách giữa nước ta với các nước phát triển trên giới. Không nâng niu những mầm non năng kiếu, triệt phá môi trường giáo dục đặc biệt giành cho học sinh giỏi cũng có nghĩa là cắt bỏ một triển vọng thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng của đất nước.

4.2. Một số biện pháp bồi dưỡng HSG hóa học ở bậc THPT
4.2.1. Những phẩm chất và năng lực cần có của một HSG hóa học
– Có kiến thức hoá học cơ bản, vững vàng, sâu sắc, hệ thống. Để có được phẩm chất này đòi hỏi học sinh phải có năng lực tiếp thu kiến thức, tức là có khả năng nhận thức vấn đề nhanh, rõ ràng; có ý thức tự bổ sung, hoàn thiện kiến thức ngay ở dạng sơ khởi.
– Có trình độ tư duy hoá học phát triển, có tính sáng tạo cao. Để có được những phẩm chất này đòi hỏi học sinh phải có năng lực suy luận logic, năng lực kiểm chứng, năng lực diễn đạt…
– Có khả năng quan sát, nhận thức các hiện tượng hoá học. Phẩm chất này được hình thành từ năng lực quan sát sắc sảo, mô tả, giải thích hiện tượng các quá trình hoá học, năng lực thực hành của học sinh.
– Có khả năng vận dụng linh hoạt, mềm dẻo, sáng tạo kiến thức, kỹ năng đã có để giải quyết vấn đề, các tình huống xảy ra. Đây là phẩm chất cao nhất cần có ở một học sinh giỏi.
4.2.2. Một số biện pháp phát hiện HSG hoá học ở bậc THPT
Để xác định được những học sinh học giỏi hóa học, giáo viên cần phải làm
rõ:
– Mức độ nắm vững kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo của học sinh theo tiêu chuẩn
kiến thức, kỹ năng của chương trình và sách giáo khoa.
– Trình độ nhận thức, mức độ tư duy của từng học sinh và đặc biệt là đánh giá được khả năng vận dụng kiến thức linh hoạt, sáng tạo của học sinh.
Muốn vậy, giáo viên phải theo dõi quá trình học tập trên lớp của học sinh và tiến hành kiểm tra toàn diện kiến thức của học sinh. Thông qua bài kiểm tra, giáo viên có thể phát hiện HSG hoá học theo các tiêu chí:
– Mức độ đầy đủ, rõ ràng về mặt kiến thức.
– Tính logic trong bài làm của học sinh đối với từng yêu cầu cụ thể.
– Tính khoa học, chi tiết, độc đáo được thể hiện trong bài làm của học sinh.
– Tính mới, tính sáng tạo (những đề xuất mới, những giải pháp có tính mới về mặt bản chất, cách giải bài tập hay, ngắn gọn…).
– Mức độ làm rõ nội dung chủ yếu phải đạt được của toàn bài kiểm tra.
– Thời gian hoàn thành bài kiểm tra.
Tuy nhiên, để có thể phát hiện HSG bằng kiểm tra kiến thức một cách có hiệu quả và chính xác, câu hỏi đặt ra phải đòi hỏi ở học sinh khả năng tư duy sáng tạo, khả năng vận dụng linh hoạt các kiến thức, kĩ năng đã học.

4.2.3. Một số biện pháp bồi dưỡng HSG hoá học ở bậc THPT
a. Kích thích động cơ học tập của học sinh.
Bất kỳ ai làm một việc gì dù nhỏ mà không mang lại lợi ích cho bản thân, cho người thân, cho bạn bè hoặc cho cộng đồng thì người ta sẽ không có động cơ để làm việc đó. Đối với học sinh tham gia vào đội tuyển học sinh giỏi cũng vậy, do đó, để việc bồi dưỡng học sinh giỏi có hiệu quả cao thì không thể không chú ý tới việc kích thích động cơ học tập của học sinh. Giáo viên dạy đội tuyển học sinh giỏi có thể tham khảo đề xuất sau:
* Hoàn thiện những yêu cầu cơ bản
– Tạo môi trường dạy – học phù hợp.
– Thường xuyên quan tâm tới đội tuyển.
– Giao các nhiệm vừa sức cho học sinh và làm cho các nhiệm vụ đó trở nên thực sự có ý nghĩa với bản thân họ.
* Xây dựng niềm tin và những kỳ vọng tích cực trong mỗi học sinh
– Bắt đầu công việc học tập, công việc nghiên cứu vừa sức đối với học sinh.
– Làm cho học sinh thấy mục tiêu học tập rõ ràng, cụ thể và có thể đạt tới được.
– Thông báo cho học sinh rằng năng lực học tập của các em có thể được nâng cao hoặc đã được nâng cao. Đề nghị các em cần cố gắng hơn nữa.
* Làm cho học sinh tự nhận thức được lợi ích, giá trị của việc được chọn vào đội tuyển học sinh giỏi
– Việc học trong đội tuyển trở thành niềm vui, niềm vinh dự.
– Tác dụng của phương pháp học tập, khối lượng kiến thức thu được khi tham gia đội tuyển có tác dụng như thế nào đối với môn hóa học ở trên lớp, với các môn học khác và với cuộc sống hàng ngày.
– Giải thích mối liên quan giữa việc học hóa học hiện tại và việc học hóa học mai sau.
– Sự ưu ái của gia đình, nhà trường, thầy cô và phần thưởng giành cho các học sinh đoạt giải.
b. Soạn thảo nội dung dạy học và có phương pháp dạy học hợp lý
Nội dung dạy học gồm hệ thống lý thuyết và hệ thống bài tập tương ứng. Trong đó, hệ thống lý thuyết phải được biên soạn đầy đủ, ngắn gọn, dễ hiểu, bám sát yêu cầu của chương trình; soạn thảo, lựa chọn hệ thống bài tập phong phú, đa dạng giúp học sinh nắm vững kiến thức, đào sâu kiến thức, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo và đồng thời phát triển được tư duy cho học sinh.

Sử dụng phương pháp dạy học hợp lý sao cho học sinh không cảm thấy căng thẳng, mệt mỏi và quá tải đồng thời phát huy được tối đa tính tích cực, tính sáng tạo và nội lực tự học tiềm ẩn trong mỗi học sinh.
c. Kiểm tra, đánh giá
Trong quá trình dạy đội tuyển, giáo viên có thể đánh giá khả năng, kết quả học tập của học sinh thông qua việc quan sát hành động của từng em trong quá trình dạy học, kiểm tra, hoặc phỏng vấn, trao đổi. Hiện nay, thường đánh giá kết quả học tập của học sinh trong đội tuyển bằng các bài kiểm tra, bài thi(bài tự luận hoặc bài thi tổng hợp). Tuy nhiên cần chú ý là các câu hỏi trong bài thi nên được biên soạn sao cho có nội dung khuyến khích tư duy độc lập, sáng tạo của học sinh.
5. Thực trạng việc bồi dưỡng HSG hoá học ở bậc THPT hiện nay

0/5 (0 Reviews)
0/5 (0 Reviews)

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

11;12
Hóa học