SKKN Phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác cho HS THPT bằng việc sử dụng các kỹ thuật dạy học tích cực

Giá:
100.000 đ
Cấp học: THPT
Môn: Hóa học
Lớp: 11
Bộ sách:
Lượt xem: 389
File:
TÀI LIỆU WORD
Số trang:
106
Lượt tải:
12

Trên cơ sở mục đích nghiên cứu ở trên, tôi đề ra các nhiệm vụ và kế hoạch nghiên cứu cụ thể như sau:
– Nghiên cứu về năng lực giao tiếp và hợp tác
– Vai trò quan trọng của năng lực này trong giai đoạn hiện nay và tương lai
– Nghiên cứu lí luận về tự học, một số kỹ thuật dạy học tích cực
– Nghiên cứu nội dung một số chương bài trong chương trình Hoá học và Văn học để lựa chọn và áp dụng một số kĩ thuật dạy học tích cực
– Thử nghiệm tại khối lớp trong trường
– Kiểm tra năng lực giao tiếp và hợp tác của học sinh trước và sau khi áp dụng một số kỹ thuật dạy học tích cực
– Đánh giá hiệu quả của đề tài về khả năng lĩnh hội kiến thức và khả năng giải quyết vấn đề của học sinh

Mô tả sản phẩm

PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài:
Chương trình giáo dục phổ thông mới (2018) được xây dựng theo định hướng phát triển phẩm chất và năng lực học sinh, giúp người học làm chủ kiến thức phổ thông, biết vận dụng hiệu quả kiến thức vào đời sống và tự học suốt đời, có khả năng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp, khả năng thích ứng với những đổi thay trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp mới.
Để đạt được mục tiêu đó, GV cần đổi mới cách thức tổ chức hoạt động học tập (HĐHT) nhằm tích cực hóa hoạt động của HS với phương châm: “Học tập trong hoạt động và bằng hoạt động”, từ đó, trong tổ chức dạy học cần hình thành và phát triển cho học sinh các năng lực cốt lõi đáp ứng thời đại mới như : năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo, năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực tìm hiểu tự nhiên và xã hội, năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm mỹ, năng lực thể chất. Trong đó, năng lực giao tiếp và hợp tác là một trong 3 năng lực chung cần hướng tới ở tất cả các môn học.
Việc hình thành được năng lực giao tiếp và hợp tác trong dạy học bộ môn Hóa học, Ngữ Văn nói riêng và các môn học khác nói chung, GV cần sử dụng phong phú, linh hoạt, hiệu quả các phương pháp, kỉ thuật dạy học tích cực. Thông qua đó học sinh sẽ hình thành được một số kỹ năng cần thiết như kỹ năng thuyết trình, kỹ năng hoạt động nhóm, kỹ năng tư duy phản biện, kỹ năng quản lý thời gian…
Từ cơ sở lý luận và thực tiễn trên, chúng tôi nghiên cứu đề tài: “Phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác cho HS THPT bằng việc sử dụng các kỹ thuật dạy học tích cực”.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận dạy học, lý thuyết về một số kỹ thuật dạy học tích cực chúng tôi đã tiến hành sử dụng một số kỹ thuật dạy học tích cực để phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác cho HS THPT.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Học sinh các khối lớp trong trường THPT Nghi Lộc IV
Phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác cho HS THPT thông qua việc sử dựng một số kỹ thuật dạy học tích cực áp dụng cho môn Hóa học và Văn học.
4. Kế hoạch nghiên cứu
Trên cơ sở mục đích nghiên cứu ở trên, tôi đề ra các nhiệm vụ và kế hoạch nghiên cứu cụ thể như sau:
– Nghiên cứu về năng lực giao tiếp và hợp tác
– Vai trò quan trọng của năng lực này trong giai đoạn hiện nay và tương lai
– Nghiên cứu lí luận về tự học, một số kỹ thuật dạy học tích cực.
– Nghiên cứu nội dung một số chương bài trong chương trình Hoá học và Văn học để lựa chọn và áp dụng một số kĩ thuật dạy học tích cực.
– Thử nghiệm tại khối lớp trong trường.
– Kiểm tra năng lực giao tiếp và hợp tác của học sinh trước và sau khi áp dụng một số kỹ thuật dạy học tích cực.
– Đánh giá hiệu quả của đề tài về khả năng lĩnh hội kiến thức và khả năng giải quyết vấn đề của học sinh.
5. Phương pháp nghiên cứu
– Nghiên cứu lý thuyết về lý luận dạy học nói chung và lý luận dạy Hoá học và Văn học nói riêng.
– Nghiên cứu các tài liệu về cơ sở lý luận một số kỹ thuật dạy học tích cực.
– Phương pháp thực nghiệm và thống kê. Thực nghiệm sư phạm để kiểm nghiệm tính thực tiễn và hiệu quả của phương án đã đề xuất.
6. Thời gian nghiên cứu và hoàn thành đề tài
Đề tài được bắt đầu thử nghiêm và tiến hành từ năm 2020 sau khi tìm hiểu về định hướng đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát triển phẩm chất và năng lực học sinh.
Báo cáo kết quả năm học 2021- 2022.
7. Đóng góp mới của đề tài
Thấy được tầm quan trọng của việc phát triển năng lực giao tiếp hợp tác trong quá trình dạy học
Đề tài đã sử dụng một số kĩ thuật dạy học tích cực để tổ chức dạy học các môn Hóa học và Văn học từ đó thấy được các kỹ thuật dạy học được lồng thường xuyên vào các môn học thì sẽ giúp HS rèn luyện được rất nhiểu kỹ năng cần thiết.
PHẦN II. NỘI DUNG
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
I. Cơ sở lý luận
1.1. Giao tiếp và hợp tác
1.1.1. Giao tiếp
Giao tiếp là một quá trình hoạt động trao đổi thông tin giữa người nói và người nghe nhằm đạt được một mục đích nào đó. Mục đích của giao tiếp là nhằm thiết lập và củng cố các mối quan hệ xã hội. Hoạt động giao tiếp có thể tiến hành bằng ngôn ngữ hoặc bằng các hệ thống ký hiệu khác. Trong đó, giao tiếp bằng ngôn ngữ là hoạt động giao tiếp chủ đạo trong đời sống con người.
Khái niệm về năng lực giao tiếp lần đầu được xuất hiện trong những năm 1970 khi nhà ngôn ngữ học Hymes phân biệt hai loại năng lực: “năng lực ngữ pháp” và “năng lực sử dụng”. Từ đó, khái niệm “năng lực giao tiếp” được hình thành để chỉ việc sử dụng hiệu quả ngôn ngữ trong một tình huống xã hội cụ thể.
Đối với A. Abbou, năng lực giao tiếp được xem xét dưới góc độ xã hội nhiều hơn là ngôn ngữ. Theo Abbou, năng lực giao tiếp của một người nào đó là “tổng hợp năng lực vốn có và các khả năng thực hiện được hệ thống tiếp nhận và diễn giải các tín hiệu xã hội có được theo đúng như tập hợp các chỉ dẫn và quy trình đã được xây dựng và phát triển để tạo ra trong một tình huống xã hội các hành xử phù hợp với việc xem xét các dự định của mình”.
Dưới góc nhìn ngôn ngữ học của mình, Beautier – Casting lại cho rằng năng lực giao tiếp là “năng lực vốn có của người nói để hiểu một tình huống trao đổi ngôn ngữ và trả lời một cách thích hợp, bằng ngôn ngữ hay không bằng ngôn ngữ.
Giao tiếp giúp HS suy nghĩ để trình bày kết quả của mình đến người khác một cách rõ ràng và thuyết phục. Trong quá trình giao tiếp, các ý tưởng cũng được đánh giá xem xét từ nhiều góc nhìn giúp con người nhận thức vấn đề sâu sắc hơn. Đồng thời quá trình giao tiếp cũng tạo ra sự tương tác, kết nối về mặt cảm xúc tình cảm.
1.1.2. Hợp tác
Hợp tác là cùng chung sức giúp đỡ lẫn nhau trong một công việc, một lĩnh vực nào đó, nhằm một mục đích chung.
Sự hợp tác diễn ra ở các mặt: Thể hiện khả năng làm việc hiệu quả và tôn trọng với các nhóm đa dạng; Vận dụng tính linh hoạt và sẵn lòng giúp ích trong việc thực hiện các thỏa hiệp cần thiết để đạt được mục tiêu chung; Giả định trách nhiệm được chia sẻ đối với công việc hợp tác và các đóng góp cá nhân có giá trị được thực hiện bởi mỗi thành viên trong nhóm.
Hợp tác trong dạy học là sự kết hợp giữa tính tập thể và tính cá nhân thực
hiện các biện pháp có cơ sở khoa học để tổ chức, điều khiển các mối quan hệ vận động và phát triển theo một trật tự nhất định nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ dạy học.
Trong đó, giáo viên (GV) là người chỉ đạo hoạt động tự học của HS, giúp HS tự tìm ra tri thức qua quá trình cá nhân hóa và xã hội hóa. HS là chủ thể tích cực của hoạt động học tập. Qua hợp tác, HS trao đổi ý tưởng giúp nhau trong việc lĩnh hội tri thức, hình thành kĩ năng, kĩ xảo và tự mình tìm kiếm tri thức bằng chính hành động của mình. Sự tác động giữa người dạy, người học và môi trường theo trật tự nhất định tạo nên sự thống nhất của quá trình dạy học, làm cho quá trình này vận động tạo ra tri thức, kĩ năng, thái độ và sự trưởng thành ở HS.
1.2. Năng lực giao tiếp và hợp tác của học sinh trong hoạt động nhóm
Hoạt động nhóm dùng khả năng của thành viên tạo nên sức mạnh tập thể, đem lại kết quả tốt mà một cá nhân không làm được hoặc làm được nhưng tính hiệu quả không cao.
Qua hoạt động nhóm, HS biết giao tiếp và hợp tác với nhau trên nhiều phương diện như: HS nêu được quan điểm của mình, nghe được quan điểm của bạn; hoạt động nhóm cho phép một cá nhân nhỏ lẻ vượt qua chính mình để đạt kết quả cao và kéo các thành viên khác cùng tham gia hoạt động nhóm; HS nhìn và xem xét giải quyết vấn đề sâu rộng và toàn diện hơn, từ đó kiến thức của mỗi thành viên sẽ bớt phần chủ quan và trở nên sâu sắc hơn; HS sẽ hào hứng hơn khi có sự đóng góp của mình vào thành quả chung; vốn hiểu biết, kinh nghiệm xã hội của HS thêm phong phú; kĩ năng giao tiếp, hợp tác, tính khách quan khoa học, tư duy phê phán của HS được rèn luyện và phát triển.
Hoạt động nhóm giúp các thành viên trong nhóm không chỉ liên kết với nhau về mặt trách nhiệm mà còn có mối liên hệ tình cảm, đạo đức, lối sống; thành công của cá nhân chỉ mang ý nghĩa góp phần tạo nên sự thành công của nhóm. Trong hoạt động nhóm, HS không chỉ nhằm lĩnh hội nội dung – chương trình môn học, mà quan trọng là được thực hành và thể hiện, củng cố các kĩ năng xã hội (như kĩ năng lắng nghe, kĩ năng đặt câu hỏi – trả lời, kĩ năng sử dụng ngữ điệu khi giao tiếp, …). Từ đó, HS cùng nhau xây dựng nhận thức, thái độ mới trong học tập cũng như trong cuộc sống tốt hơn.
Tóm lại, năng lực giao tiếp và hợp tác sẽ được phát triển qua tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học, đó là tăng cường khả năng trình bày và diễn đạt ý tưởng; sự tương tác tích cực giữa các thành viên trong nhóm khi thực hiện nhiệm vụ hợp tác.
1.3. Phân biệt về năng lực và kỹ năng
Năng lực là tập hợp toàn bộ các kỹ năng, kiến thức, khả năng, hành vi của một người có thể đáp ứng đối với một công việc nhất định nào đó, đây cũng là một trong những yếu tố quan trọng để cá nhân có thể hoàn thành một việc nào đó hiệu quả hơn so với người khác.
Năng lực được tạo nên từ tư chất tự nhiên và do luyện tập, học hỏi, làm việc mà có.
Kỹ năng là khả năng vận dụng những kiến thức, hiểu biết của con người để thực hiện một việc gì đó, có thể là việc nghề nghiệp mang tính kỹ thuật, chuyên môn hoặc việc liên quan đến cảm xúc, sinh tồn giao tiếp,…
Kỹ năng không phải là khả năng đặc biệt cũng không phải kiến thức của bạn. Nó là sự thành thục, thông thạo một việc thông qua quá trình rèn luyện và đào tạo.
1.4. Kĩ năng làm việc nhóm hiệu quả
• Có mục tiêu chung
• Giao tiếp hiệu quả
• Vai trò lãnh đạo
• Vai trò cá nhân • Phân công hiệu quả
• Quản lí xung đột
• Sự tin tưởng
• Gắn kết
• Gương mẫu, tránh tiêu cực
• Kiểm tra
1.5 Kỹ năng giao tiếp hiệu quả
Đây là kỹ năng được xem là yếu tố then chốt đối với sự phát triển toàn diện của một người, dù là trong công việc hay các mối quan hệ riêng tư. Vì vậy, nghệ thuật giao tiếp – hiểu người và làm cho người khác hiểu mình là một trong những kỹ năng quan trọng cần phải rèn luyện để thực sự thành công.. Vì vậy để giao tiếp có hiệu quả thì cần phải:
• Học cách lắng nghe
• Bắt đầu làm quen
• Quan tâm đến cảm xúc của người khác
• Trình bày trôi chảy
• Không nên lặp từ
• Tranh ảnh có thể diễn đạt thay cả ngàn lời nói
• Học cách quản lý thời gian
• Sự động viên khích lệ
• Cố gắng giải quyết xung đột
• Duy trì thái độ tích cực và tươi cười
1.6. Các cách chia nhóm
Tiêu chí Cách thực hiện, ưu, nhược điểm
Các nhóm gồm những người tự nguyện chung mối quan tâm – Ưu điểm: Đối với học sinh thì đây là cách dễ chịu nhất để thành lập nhóm, đảm bảo công việc thành công nhất
– Nhược điểm: Dễ tạo sự tách biệt giữa các nhóm trong lớp, vì vậy cách tạo nhóm như thế này không nên là khả năng duy nhất
Các nhóm ngẫu nhiên Bằng cách đếm số, phát thẻ, gắp thăm, sắp xếp theo màu sắc,…
-Ưu điểm: Các nhóm luôn luôn mới mẻ sẽ đảm bảo là tất cả các học sinh đều có thể học tập chung nhóm với tất cả các học sinh khác.
– Nhược điểm: Nguy cơ có trục trặc tăng cao, học sinh phải sớm làm quen với việc đó để thấy rằng cách lập
nhóm như thế này là bình thường
Nhóm ghép hình Xé nhỏ một bức tranh hoặc các tờ tài liệu cần xử lý, các học sinh được phát mẫu xé nhỏ, những học sinh ghép thành bức tranh hoặc tờ tài liệu đó sẽ tạo thành nhóm
– Ưu điểm: Cách tạo nhóm kiểu vui chơi, không gây ra sự đối địch, đối kháng
– Nhược điểm: Cần một tí chi phí để chuẩn bị và cần nhiều thời gian để lập thành nhóm
Các nhóm với những đặc điểm chung Ví dụ: Tất cả các học sinh được sinh ra trong mùa đông, mùa xuân, mùa hè, mùa thu sẽ tạo thành nhóm
– Ưu điểm: Tạo lập nhóm một cách độc đáo, tạo ra niềm vui cho HS có thể biết nhau rõ hơn
– Nhược điểm: Cách làm này mất đi tính độc đáo nếu được sử dụng thường xuyên
Các nhóm cố định trong một thời gian dài Các nhóm được duy trì trong một số tuần hoặc một số tháng. Các nhóm này thậm chí có thể được đặt tên riêng. – Ưu điểm: Cách làm này đã được chứng tỏ tốt trong những nhóm học tập có nhiều vấn đề
– Nhược điểm: Sau khi đã quen nhau trong một thời gian dài thì việc lập các nhóm mới sẽ khó khăn.
Nhóm có HS khá Những học sinh khá giỏi trong lớp cùng luyện tập với các giỏi để hỗ trợ học sinh yếu kém học sinh yếu hơn và đảm nhận nhiệm vụ của người hướng dẫn
– Ưu điểm: Tất cả đều được lợi. Những học sinh khá giỏi đảm nhận trách nhiệm, những học sinh yếu kém được giúp đỡ
– Nhược điểm: Ngoài việc mất thời gian thì chỉ có ít nhược điểm, trừ phi những học sinh khá giỏi hướng dẫn sai
Phân chia theo năng lực học tập khác nhau Những học sinh yếu hơn sẽ xử lý các bài tập cơ bản, những học sinh khá giỏi sẽ nhận được thêm các bài tập bổ sung.
– Ưu điểm: Học sinh có thể xác định mục đích của mình. Ví dụ, ai bị điểm kém trong môn toán thì có thể tập trung vào một số ít bài tập
– Nhược điểm: Cách làm này dẫn đến kết quả là nhóm học tập cảm thấy bị chia thành những học sinh thông minh và những học sinh kém
Phân chia theo các dạng học tập Được áp dụng thường xuyên khi học tập theo tình huống, những học sinh thích học tập với hình ảnh, âm thanh hoặc biểu tượng sẽ nhận được những bài tập tương ứng
– Ưu điểm: Học sinh sẽ biết các em thuộc dạng học tập như thế nào?
– Nhược điểm: Học sinh chỉ học những gì mình thích và bỏ qua những nội dung khác.
Nhóm với các bài tập khác nhau Ví dụ: Trong khuôn khổ một dự án, một số học sinh sẽ khảo sát một xí nghiệp sản xuất , một số khác khảo sát cơ sở chăm sóc xã hội…
– Ưu điểm: Tạo điều kiện học tập theo kinh nghiệm đối với những gì đặc biệt quan tâm.
– Nhược điểm: Thường chỉ áp dụng trong khuôn khổ một dự án lớn
Phân chia học sinh nam và nữ – Ưu điểm: Có thể thích hợp nếu học về những chủ đề đặc trưng cho học sinh nam và nữ, ví dụ trong giảng dạy về tình dục chủ đề lựa chọn nghề nghiệp…
– Nhược điểm: Nếu bị lạm dụng có thể dẫn đến mất bình đẳng nam nữ
II. Cơ sở thực tiễn
2.1. Thực trạng của việc tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học
– Thực tiễn về năng lực giao tiếp và hợp tác của học sinh
Hiện nay, với sự phát triển khoa học và công nghệ, đặc biệt công nghệ thông tin, năng lực giao tiếp và hợp tác của học sinh có nhiều thay đổi.
Về năng lực giao tiếp, học sinh được tiếp xúc với nhiều loại ngôn ngữ, mạng truyền thông, được rèn luyên kỹ năng giao tiếp qua nhiều kênh phong phú (tại trường, qua mạng, giao tiếp thường ngày) nên nhiều em có năng lực giao tiếp tốt hơn, mạnh dạn hơn.
Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực thì năng lực giao tiếp hiện nay ở học sinh vẫn có nhiều bất cấp, như là: một số em không biết cách diễn đạt, thờ ơ với người khác, không nói lên chính kiến trước các vấn đề có liên quan đến bản thân, nổi bật nhất là tình trạng sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp chưa tốt. Một số HS có biểu hiện sự thô lỗ, cộc cằn, thiếu lịch sự tế nhị trong giao tiếp, sử dụng nhiều tiếng lóng, tiếng bồi trong giao tiếp. sử dụng ngôn ngữ tùy tiện, tối nghĩa, dung tục, …
Tương tự năng lực giao tiếp, năng lực hợp tác được thể hiện tốt ở nhiều học sinh do sự mạnh dạn, chủ động, giao tiếp tốt. Bên cạnh đó, một số học sinh không có tinh thần hợp tác với bạn bè, giờ ra chơi là mở điện thoại, không giao lưu với ai, hầu như chỉ làm bạn với điện thoại, trong học tập thiếu sự tương tác với nhóm học tập.

0/5 (0 Reviews)
0/5 (0 Reviews)

TÀI LIỆU LIÊN QUAN