SKKN Tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong dạy học theo định hướng giáo dục STEM chương Cacbohidrat Hóa học 12 – THPT

Giá:
100.000 đ
Cấp học: THPT
Môn: Hóa học
Lớp: 12
Bộ sách:
Lượt xem: 784
File:
TÀI LIỆU WORD
Số trang:
84
Lượt tải:
8

Sáng kiến kinh nghiệm “SKKN Tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong dạy học theo định hướng giáo dục STEM chương Cacbohidrat Hóa học 12 – THPT” triển khai các biện pháp như sau: 

2.3.2. Các HĐTNST có thể triển khai trong dạy học STEM chương Cacbohidrat.
– Tổ chức tham quan dã ngoại chủ đề Tinh Bột và Xenlulozo.
– Tổ chức trò chơi ô chữ, rung chuông vàng trên phần mền plickes.
– Tổ chức câu lạc bộ STEM.
– Tổ chức thảo luận nhóm báo cáo sản phẩm.
– Tổ chức diễn đàn hóa học.
– Tổ chức cuộc thi thông qua phần mềm quizzi, azota.
– Tổ chức lao động công ích: gom giấy sau giờ tan học của trường THPT Ql3.
– Tổ chức giao lưu tiết báo cáo sản phẩm.
– Tổ chức sự kiện sơ đồ tư duy.

Mô tả sản phẩm

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Lí do chọn đề tài
Hóa học là ngành khoa học thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên nghiên cứu các chất, sự biến đổi và ứng dụng của chúng. Hoá học đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống, sản xuất, góp phần vào sự phát triển kinh tế – xã hội. Hầu như mỗi một vật dụng nào chúng ta sử dụng cũng là kết quả của hóa học. Hóa học được mệnh danh là ‘khoa học trung tâm của các nghành khoa học’ vì có rất nhiều nghành khoa học đều lấy hóa học làm cơ sở nền tảng để phát triển. Hóa học cùng với các môn khoa học khác góp phần hình thành thế giới quan, nhân cách toàn diện cho HS. Cùng với vật lí, sinh học, công nghệ, kỷ thuật và toán học thì môn hoá học góp phần thúc đẩy giáo dục STEM, một trong những xu hướng giáo dục đang được coi trọng ở nhiều quốc gia trên thế giới.
Giáo dục STEM vừa mang ý nghĩa thúc đẩy giáo dục các lĩnh vực khoa học, công nghệ, kĩ thuật và toán học vừa thể hiện phương pháp tiếp cận liên môn, phát triển năng lực và phẩm chất người học. Khi học chủ đề STEM đòi hỏi HS vận dụng kiến thức để giải quyết các vấn đề về thực tiễn thường gặp trong cuộc sống. Trong một chủ đề STEM tổ chức các HĐTNST là cần thiết. Đây là một phương pháp học tập để HS khám phá kiến thức, thử thách bản thân và có thể phát triển những nhóm năng lực, đặc biệt là hướng đến tư duy, định hướng nghề nghiệp trong công nghệ 4.0 của thế kỉ 21.
Học thông qua HĐTNST là hoạt động giữ vai trò rất quan trọng trong chương trình giáo dục phổ thông mới; giúp các em rèn luyện kỹ năng sống, tính sáng tạo trong học tập và sinh hoạt hằng ngày. HĐTNST góp phần hình thành, phát triển các phẩm chất chủ yếu, năng lực chung và các năng lực đặc thù môn học cho HS; nội dung hoạt động được xây dựng dựa trên các mối quan hệ của cá nhân HS với bản thân, với xã hội, với tự nhiên và với nghề nghiệp. Đồng thời tổ chức các HĐTNST cho HS được trải nghiệm cả khi học trực tiếp và học trực tuyến trong thời kỳ dịch bệnh COVIT 19 phức tạp hiện nay.
Trong thực tế là GV giảng dạy môn hóa học THPT Quỳnh lưu 3 nhận thấy HS cảm nhận hóa học là môn học nặng về kiến thức, khô khan, ít đi sâu tìm hiểu về bản chất của hiện tượng và sự gắn kết giữa kiến thức sách vở với vấn đề thực tiễn. Dẫn đến HS ít say mê và khám phá về môn học. Đặc biệt HS 12 khi tham gia các kì thi THPT quốc gia cảm thấy sợ và khó khăn khi gặp những câu hỏi hóa học liên hệ thực tiễn. Lúc này GV giảng dạy suy nghĩ trăn trở và tiếp cận với xu thế mới hiện nay thì việc tổ chức HĐTNST theo định hướng giáo dục STEM là cần thiết. HS rất hứng thú trải nghiệm, khám phá , hăng say vận dụng kiến thức các môn học để tạo ra các sản phẩm theo từng chủ đề.Từ đó HS sẽ tìm tòi, chủ động tư duy để tìm hiểu, thực hiện và rèn luyện kỷ năng về kiến thức môn học và tham gia thi THPT Quốc Gia đạt hiểu quả.

Từ những lí do trên tôi đã chọn đề tài “Tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong dạy học theo định hướng giáo dục STEM chương Cacbohidrat Hóa học 12 – THPT” với mong muốn góp phần vào việc đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực HS nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của dạy học môn Hóa học lớp 12 nói riêng và chất lượng dạy học Hóa học ở trường phổ thông nói chung.
1.2. Mục đích nghiên cứu
Tổ chức các HĐTNST trong dạy học theo định hướng giáo dục STEM chương Cacbohidrat Hóa học 12 – THPT với mục đích: góp phần nâng cao hiệu quả dạy và học môn Hóa Học cũng như phát triển năng lực của HS trường THPT. Rèn luyện cho HS kĩ năng làm việc theo nhóm một cách có hiệu quả từ đó hình thành năng lực hợp tác trong học tập và trong công việc hàng ngày. Định hướng cho HS cách tìm tòi, khai thác các tài liệu liên quan đến vấn đề học tập và định hướng cách khai thác thông tin từ tài liệu thu thập được một cách có hiệu quả. Giúp HS tự tin giao tiếp trước đám đông và khả năng thuyết trình các sản phẩm do chính các em tìm tòi.Và hơn hết các em có thể tự hào về những sản phẩm do chính tay mình làm ra và sử dụng những sản phẩm đó với nhiều mục đích khác nhau hoặc sẽ định hướng nghề nghiệp sau khi ra trường. Xây dựng thêm các chủ đề dạy học theo nội dung HĐTN vào bài giảng Hóa học 12 – THPT để dạy tốt và học tốt môn Hóa Học.
1.3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
– Đối tượng nghiên cứu: Tổ chức được các HĐTNST trong quy trình dạy học theo định hướng giáo dục STEM chương Cacbohidrat Hóa học 12 – THPT.
– Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu, tổ chức các HĐTNST và vận dụng vào dạy học một số chủ đề: Cacbohidrat theo định hướng giáo dục STEM trong Hóa học 12 – THPT nhằm phát triển vận dụng vào thực tiễn của HS.
1.4. Nhiệm vụ nghiên cứu
– Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc tổ chức HĐTNST như khái niệm, nội dung, yêu cầu, các hình thức tổ chức HĐTNST ở trường THPT. Nghiên cứu định hướng giáo dục STEM trong dạy học môn Hóa Học. Thực trạng dạy học ở các trường THPT trên địa bàn Quỳnh Lưu. Nghiên cứu nội dung chương trình SGK Hóa Học 12, các kiến thức chương Cacbohidrat Hóa học 12 – THPT theo công văn 3280 /BGDĐT – GDTrH (27/08/2020) của bộ GD và ĐT. Xác định nội dung tiến trình HĐTN theo định hướng giáo dục STEM. Soạn thảo các quy trình tổ chức HĐTNST theo định hướng giáo dục STEM. Tiến hành thực nghiệm sư phạm theo nội dung và kiến thức đã soạn thảo để kiểm tra, đánh giá tính khả thi và tính hiệu quả của các HĐTNST đã xây dựng trong chủ đề. Phân tích kết quả thực nghiệm thu được để đánh giá chất lượng kiến thức của HS. Nêu được các kết luận về ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài. Kết luận và đề xuất.

1.5. Phương pháp nghiên cứu
– Nghiên cứu cơ sở lí luận của phương pháp dạy học TNST, nghiên cứu tài liệu, SGK, STK có liên quan.
– Khảo sát thực trạng ở trường phổ thông, các phương pháp hỗ trợ, thăm dò ý kiến GV, HS.
– Thực nghiệm sư phạm và xử lý kết quả thực nghiệm sư phạm.
1.6. Kế hoạch nghiên cứu

1.7. Tính mới của đề tài
– Về mặt lý luận: Góp phần làm sáng tỏ cơ sở lí luận về việc tổ chức các HĐTNST trong dạy học một số chủ đề: Cacbohiđrat hóa học 12 theo định hướng giáo dục STEM.
– Về mặt thực tiễn: tổ chức thực hiện các HĐTNST vào thực tiễn trong dạy học một số chủ đề: Cacbohiđrat hóa học 12 theo định hướng giáo dục STEM.
– Đề tài đã triển khai, bổ sung và tổ chức được các HĐTNST trong dạy học STEM một số chủ đề thuộc chương Cacbohiđrat hóa học 12 dưới hai hình thức : dạy học trực tiếp và dạy học trực tuyến (thiết kế bài giảng e-learning và xây dựng kế hoạch bài dạy e-learning có lồng ghép phát triển năng lực số và kỹ năng chuyển đổi cho HS) nên đề tài được áp dụng rộng rãi cho HS các trường THPT.
PHẦN 2: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
2.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1.1. Dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh.
2.1.1.1. Khái niệm về năng lực
Năng lực là khả năng thực hiện có hiệu quả và có trách nhiệm các nhiệm vụ, công việc thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân dựa trên hiểu biết, kĩ năng, và thái độ (sự sẵn sàng hành động) (Theo Bernd Meier và Nguyễn Văn Cường, 2012).
2.1.1.2. Dạy học định hướng phát triển năng lực của học sinh
Với cách hiểu như trên về năng lực, việc dạy học thay vì chỉ dừng ở hướng tới mục tiêu dạy học hình thành kiến thức, kĩ năng và thái độ tích cực ở HS thì còn hướng tới mục tiêu xa hơn đó là trên cơ sở kiến thức, kĩ năng được hình thành, phát triển khả năng thực hiện các hành động có ý nghĩa đối với người học. Nói một cách khác việc dạy học định hướng phát triển năng lực về bản chất không thay thế mà chỉ mở rộng hoạt động dạy học hướng nội dung bằng cách tạo một môi trường, bối cảnh cụ thể để HS được thực hiện các hoạt động vận dụng kiến thức, sử dụng kĩ năng và thể hiện thái độ của mình.
Với cách tiếp cận này, người ta sẽ dựa trên đặc thù nội dung, phương pháp nhận thức và vai trò của môn học đối với thực tiễn để đưa ra hệ thống năng lực chuyên biệt cụ thể là môn Hóa học gồm có: NL vận dụng kiến thức hóa học vào cuộc sống; NL giải quyết vấn đề thông qua môn hóa học; NL thực hành hóa học; NL sử dụng ngôn ngữ hóa học; NL tính toán hóa học.
2.1.2. Hoạt động trải nghiệm sáng tạo.
2.1.2.1. Khái niệm “hoạt động”
Mọi hoạt động của con người đều có tính mục đích. Con người hiểu được mục đích hoạt động của mình, từ đó mới định rõ chức năng, nhiệm vụ, động lực của hoạt động để đạt hiệu quả trong công việc. K.Marx cho rằng, hoạt động của con người là hoạt động có mục đích, có ý thức; mục đích, ý thức ấy như một quy luật, quyết định phương thức hoạt động và bắt ý chí con người phụ thuộc vào nó.
K. Marx viết: “Công việc đòi hỏi một sự chú ý bền bỉ, bản thân sự chú ý đó chỉ có thể là kết quả của một sự căng thẳng thường xuyên của ý chí”. Trong lịch sử của nhân loại, tính mục đích trong hoạt động và tầm nhìn về lợi ích của hoạt động con người thể hiện rõ trong nền giáo dục của các dân tộc và quốc gia từ xưa đến nay. Hoạt động của con người dành cho việc dạy và học luôn được chú trọng và đề cao. Hồ Chủ tịch từng nhắc lại một bài học của người xưa: “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”. Dạy học là dạy người. Trong quan niệm của người Việt, người thầy được coi là một nhân tố góp phần quan trọng, quyết định sự nghiệp của con người. Câu tục ngữ “Không thầy đố mày làm nên” có ý nghĩa như vậy.
2.1.2.2. Trải nghiệm:
Sự trải nghiệm được hiểu là kết quả của sự tương tác giữa con người với thế giới khách quan. Sự tương tác này bao gồm cả hình thức và kết quả các hoạt động thực tiễn trong xã hội, bao gồm cả kỹ thuật và kỹ năng, cả những nguyên tắc hoạt động và phát triển thế giới khách quan.Trải nghiệm là kiến thức kinh nghiệm thực tế; là thể thống nhất bao gồm kiến thức và kỹ năng. Trải nghiệm là kết quả của sự tương tác giữa con người và thế giới, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
2.1.2.3. Sáng tạo.
Sáng tạo là biểu hiện của tài năng trong những lĩnh vực đặc biệt nào đó, là năng lực tiếp thu tri thức, hình thành ý tưởng mới và muốn xác định được mức độ sáng tạo cần phải phân tích các sản phẩm sáng tạo. Sáng tạo được hiểu là hoạt động của con người nhằm biến đổi thế giới tự nhiên, xã hội phù hợp với các mục đích và nhu cầu của con người trên cơ sở các qui luật khách quan của thực tiễn, đây là hoạt động đặc trưng bởi tính không lặp lại, tính độc đáo và tính duy nhất. Sáng tạo là một thuộc tính nhân cách tồn tại như một tiềm năng ở con người. Tiềm năng sáng tạo có ở mọi người bình thường và được huy động trong từng hoàn cảnh sống cụ thể.
2.1.2.4. Hoạt động trải nghiệm sáng tạo.
“Hoạt động trải nghiệm sáng tạo là hoạt động giáo dục, trong đó nội dung và cách thức tổ chức tạo điều kiện cho từng HS được tham gia trực tiếp và làm chủ thể của hoạt động, tự lên kế hoạch, chủ động xây dựng chiến lược hành động cho bản thân và cho nhóm để hình thành và phát triển những phẩm chất, tư tưởng, ý chí, tình cảm, giá trị, kĩ năng sống và những năng lực cần có của công dân trong xã hội hiện đại, qua hoạt động HS phát huy khả năng sáng tạo để thích ứng và tạo ra cái mới, giá trị cho cá nhân và cộng đồng”.
2.1.3. Đặc điểm của hoạt động trải nghiệm sáng tạo.
2.1.3.1. Vai trò ưu thế của hoạt động trải nghiệm sáng tạo.
– Bộ phận quan trọng của chương trình giáo dục.
– Con đường quan trọng để gắn học với hành, lý thuyết với thực tiễn.
– Hình thành phát triển nhân cách hài hòa và toàn diện cho HS.
– Điều chỉnh và định hướng cho hoạt động dạy học.
2.1.3.2. Vai trò của HS và GV trong hoạt động trải nghiệm sáng tạo.
+ Vai trò của học sinh:
HS phải chủ động và tích cực trong việc đón nhận tình huống học tập mới, chủ động trong việc huy động kiến thức, kỹ năng đã có vào khám phá, giải quyết các tình huống học tập mới đồng thời HS phải chủ động bộc lộ những quan điểm và những khó khăn của bản thân khi đứng trước tình huống học tập mới. HS đạt được tri thức, tư duy và nhân cách qua quá trình dự đoán, kiểm nghiệm, thất bại từ đó rút ra bài học cần thiết phải chủ động tích cực trong việc thảo luận, trao đổi thông tin với bạn học và GV. Việc trao đổi này phải xuất phát từ nhu cầu của chính HS trong việc tìm những giải pháp để giải quyết tình huống học tập mới hoặc khám phá sâu hơn các tình huống đó HS phải tự điều chỉnh lại kiến thức của bản thân sau khi lĩnh hội được các tri thức mới, thông qua việc giải quyết các tình huống học tập. Không chỉ chú trọng vào quá trình thu nhận kiến thức mà còn nắm cách học, mô tả được những nhiệm vụ cần thực hiện để giải quyết vấn đề. HS phải có kỹ năng sử dụng các phương tiện học tập thành thạo như biết khai thác thông tin trên internet, sử dụng các phần mềm… Luôn nỗ lực biến những ý tưởng trong học tập thành sản phẩm cụ thể. Và phải học thực hiện đánh giá người khác và tự đánh giá bản thân qua quá trình học tập.
+ Vai trò của giáo viên:
GV là người thiết kế các tình huống học tập, người nêu vấn đề, người biên soạn, giới thiệu tài liệu học tập, điều phối mọi hoạt động trong lớp học, tiếp nhận những phản hồi, điều chỉnh hoạt động học đi đúng hướng, luôn bên cạnh người học với vai trò nhà tư vấn tạo môi trường cho người học kiến tạo kiến thức cho mình.
Vai trò của GV trong dạy học TNST được mô tả như sau:
GV khuyến khích, chấp nhận sự tự điều khiển và sáng kiến của người học, tích cực tìm hiểu kiến thức đã có và nhu cầu học tập của HS, khuyến khích HS trao đổi, tranh luận với nhau và cả với GV, cũng như thay đổi cách hướng dẫn và thay đổi nội dung khi cần thiết, khuyến khích HS tư duy phê phán và tìm hiểu các vấn đề trong những tình huống bằng những câu hỏi tư duy, hay các câu hỏi mở.
Hướng dẫn người học cách học, cách điều chỉnh các kỹ năng học tập và cách định hướng, điều khiển những nỗ lực học tập. Nuôi dưỡng động cơ đam mê học tập của HS bằng cách sử dụng thường xuyên các mô hình thúc đẩy hoạt động học. Cũng luôn luôn tạo điều kiện cho HS tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau.
2.1.3.2. Kết quả của hoạt động trải nghiệm sáng tạo
– Con người được trang bị đầy đủ kiến thức phong phú về hoàn cảnh, môi trường sống, xây dựng những tình cảm đạo đức trong sáng, thân thiện, yêu cuộc sống, thiên nhiên.
– Hình thành các kĩ năng, năng lực sống trong những hoàn cảnh xã hội khác nhau.
– Giúp người trải nghiệm khám phá phát huy năng lực bản thân và có tác động đến cộng đồng.
– Cải thiện môi trường học tập thân thiện, tình cảm.
– Giảm thiểu những áp lực căng thẳng trong chương trình học.

2.1.3.3. Các nguyên tắc thiết kế hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong dạy

– Đảm bảo tính mục đích và tính kế hoạch của hoạt động.
– Đảm bảo tính thích hợp và tính hiệu quả.
– Đảm bảo sự thống nhất của nội khóa và ngoại khóa.
– Đảm bảo sự thống nhất giữa chỉ đạo của GV và tính tự quản của HS.
– Nội dung sinh hoạt phải linh hoạt, phong phú cân đối giữa các loại hình.
– Có sự tự nguyện chủ động và hứng thú của HS.
– Huy động sự tham gia giúp đỡ của nhà trường, cha mẹ HS, chính quyền địa phương, cơ quan doanh nghiệp.
2.1.3.4. Các bước thiết kế tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo.
– Bước 1: Xác định nhu cầu tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo công việc này bao gồm một số việc.
– Bước 2: Đặt tên cho hoạt động.
– Bước 3: Xác định mục tiêu của hoạt động.
– Bước 4: Xác định nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức của hoạt động.
– Bước 5: Lập kế hoạch.
– Bước 6: Thiết kế chi tiết hoạt động trên bản giấy.
– Bước 7: Kiểm tra, điều chỉnh và hoàn thiện chương trình.
– Bước 8: Lưu trữ kết quả hoạt động vào hồ sơ của HS.
2.1.3.5. Các hình thức tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong dạy học.

HĐTNST rất đa dạng phong phú, cùng một chủ đề, một nội dung giáo dục có thể tổ chức nhiều hình thức khác nhau như câu lạc bộ, trò chơi, diễn đàn, sân khấu tương tác, trải nghiệm STEM…

2.1.3.5.1. Tham quan dã ngoại:
Đây là hình thức học tập trải nghiệm hiệu quả nhất bởi tính hấp dẫn đối với HS. Mục đích của tham quan dã ngoại là được tham quan, tìm hiểu và học hỏi kiến thức.
Tiếp xúc với các di tích, danh thắng lịch sử, văn hóa, công trình nhà máy, cảnh quan tự nhiên từ đó giúp các em có những kinh nghiệm thực tế để áp dụng vào chính cuộc sống của các em.
Tham quan dã ngoại là cơ hội cho thầy – trò có sự gắn kết giao lưu để từ đó GV thấu hiểu, nắm bắt được nhu cầu nguyện vọng của HS để từ đó thiết kế các chương trình học tập phù hợp với lứa tuổi, đặc điểm môi trường học. Tham quan dã ngoại là cơ hội điều kiện tốt để các em tự khẳng định mình thể hiện tính tự quản, tính sáng tạo và biết đánh giá sự cố gắng, sự trưởng thành của bản thân củng như giúp các em học tập theo phương châm “học đi đôi với hành”, “lí luận đi đôi với thực tiễn” …
Các hình thức tham quan dã ngoại của môn thuộc khoa học tự nhiên như tham quan các cơ sở sản xuất, làng nghề, trang trại, nhà máy, xí nghiệp…. theo các chủ đề học tập.
2.1.3.5.2. Tổ chức trò chơi
Trò chơi là một loại hình thức hoạt động giải trí, thư giãn; là món ăn tinh thần nhiều bổ ích và không thể thiếu được trong cuộc sống con người nói chung, đối với HS nói riêng. Trò chơi là hình thức tổ chức các hoạt động vui chơi với nội dung kiến thức thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, có tác dụng giáo dục “chơi mà học, học mà chơi”.
Trò chơi có thể được sử dụng trong nhiều tình huống khác nhau của HĐTNST như làm quen, khởi động, dẫn nhập vào nội dung học tập, cung cấp và tiếp nhận tri thức; đánh giá kết quả, rèn luyện các kĩ năng và củng cố những tri thức đã được tiếp nhận,… Trò chơi giúp phát huy tính sáng tạo, hấp dẫn và gây hứng thú cho HS; giúp HS dễ tiếp thu kiến thức mới; giúp chuyển tải nhiều tri thức của nhiều lĩnh vực khác nhau; tạo được bầu không khí thân thiện; tạo cho các em tác phong nhanh nhẹn,…
2.1.3.5.3. Tổ chức câu lạc bộ
Đây là hoạt động ngoại khóa của một nhóm HS cùng sở thích, nhu cầu năng khiếu … với định hướng của nhà giáo nhằm tạo môi trường, giao lưu thân thiện, tích cực giữa các HS với nhau và giữa HS với thầy cô giáo và những người trưởng thành khác. Hoạt động câu lạc bộ tạo cơ hội để HS chia sẻ những kiến thức hiểu biết của mình về lĩnh vực mà các em quan tâm, qua đó phát triển các kĩ năng của HS: trình bày, giao tiếp, lắng nghe, biểu đạt ý kiến, giải quyết vấn đề… thông qua đó GV có thể hiểu và quan tâm tới nhu cầu nguyện vọng và mục đích chính đáng của HS.

Hình thức tổ chức câu lạc bộ như: câu lạc bộ xanh, trồng cây xanh bảo vệ môi trường…
2.1.3.5.4. Tổ chức thảo luận
Đây có lẽ là cách thức tổ chức dạy học trải nghiệm đơn giản và dễ thực hiện nhất với điều kiện nước ta cũng như mặt bằng chung của các trường phổ thông hiện nay.
Thảo luận có thể diễn ra trong phạm vi hẹp trong lớp học dưới sự hướng dẫn điều khiển của GV – HS cùng nhau trao đổi tìm ra nguyên nhân và giải pháp thực hiện chủ đề cùng trao đổi.
GV chỉ là người tổ chức còn HS là người chủ trì, dẫn dắt, thực hiện. Tuy nhiên đây cũng chỉ là bước đầu của học tập trải nghiệm hình thức tổ chức này sẽ khó phát huy hết năng lực người học và đặc biệt là những em HS còn chưa chú ý tới học tập. Bởi vậy GV cần có những hình thức tổ chức hấp dẫn với tất cả đối tượng HS nhằm phát triển năng lực ở người học.
2.1.3.5.5. Tổ chức các cuộc thi
Tổ chức các cuộc thi có thể trong nhà trường, lớp học hay ngoài không gian trường học. Nội dung cuộc thi rất phong phú và dễ lồng ghép bất cứ nội dung giáo dục nào. Và đó cũng là yêu cầu đặt ra đối với mỗi cuộc thi đều phải mang ý nghĩa giáo dục nhất định.
Việc lựa chọn cách thức thực hiện hay làm cho cuộc thi trở nên hấp dẫn mang tính giáo dục hiệu quả đòi hỏi chất xám từ các nhà tổ chức mà không ai khác đó chính là những thầy cô giáo người trực tiếp làm nhiệm vụ giáo dục. Nếu như tổ chức cuộc thi chỉ là hình thức thì thật khó đem tới hiệu quả và bộc lộ hết năng lực của người học.
Cuộc thi có nhiều cách tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau như: thi giải ô chữ, đố vui về các địa danh trên đất nước ta, hội thi kể chuyện theo tranh về môi trường.
Mỗi hình thức có thể tổ chức với một chủ đề trong đó mang một hay nhiều nội dung giáo dục mà ở đó có sự gắn kết với nội dung chương trình cũng như giáo dục kĩ năng sống.

TÀI LIỆU LIÊN QUAN