SKKN Ứng dụng CNTT nhằm tạo hứng thú học tập cho HS trong giảng dạy phần Hóa học hữu cơ lớp 12 – THPT

Giá:
100.000 đ
Môn: Hóa học
Lớp: 12
Bộ sách:
Lượt xem: 893
Lượt tải: 10
Số trang: 86
Tác giả:
Trình độ chuyên môn:
Đơn vị công tác:
Năm viết:
Số trang: 86
Tác giả:
Trình độ chuyên môn:
Đơn vị công tác:
Năm viết:

Ứng dụng CNTT trong dạy học phần Hóa học hữu cơ lớp 12 THPT
1. Cơ sở ứng dụng CNTT trong hoạt động dạy học môn Hóa ở trường THPT
2. Hướng dẫn sử dụng một số công cụ CNTT ứng dụng trong dạy học
3. Ứng dụng CNTT trong tổ chức dạy học phần hóa học hữu cơ lớp 12
3.1. Ứng dụng trong tổ chức hoạt động khởi động
3.2. Ứng dụng trong tổ chức hoạt động hình thành kiến thức mới
3.3. Ứng dụng trong tổ chức hoạt động luyện tập
3.4. Ứng dụng trong tổ chức hoạt động vận dụng”

Mô tả sản phẩm

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Công nghệ thông tin (CNTT) ngày càng phát triển và không ai có thể phủ nhận được những lợi ích mà nó đem lại. Ngày nay, CNTT được sử dụng trong rất nhiều các lĩnh vực như: kinh tế, văn hóa, chính trị và giáo dục… Việc sử dụng CNTT vào giảng dạy đã và đang đem lại rất nhiều lợi ích thiết thực giúp cho người dạy và người học tiếp cận với tri thức một cách dễ dàng và sinh động hơn. Hai năm nay, dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, việc chủ động, linh hoạt với hình thức dạy học online hay trực tiếp không còn xa lạ với mỗi giáo viên (GV) cũng như mỗi HS. “Làm thế nào để dạy và học online có hiệu quả?” là câu hỏi của bất kì GV, HS nào khi được thông báo chuyển sang hình thức dạy học trực tuyến. Trong thực tế giảng dạy như hiện nay thì việc sử dụng các phương pháp truyền thống chỉ thiên về giao tiếp một thầy – một trò sẽ dẫn đến một số hạn chế cho người học như lười học, lười suy nghĩ, thụ động tiếp thu kiến thức, ngại giao tiếp, không mạnh dạn và không linh hoạt do đó hiệu quả của việc dạy và học chưa đạt được hiệu quả cao như mong muốn. Vì vậy, sử dụng phần mềm CNTT vào dạy học làm phương tiện hỗ trợ một cách hợp lí sẽ đem lại hiệu quả cao hơn vì khi sử dụng phần mềm dạy học, bài giảng sẽ sinh động hơn, sự tương tác hai chiều giữa người dạy và người học được thiết lập, người học được giải phóng khỏi những công việc thủ công vụn vặt, tốn thời gian, dễ nhầm lẫn, nên có điều kiện đi sâu vào bản chất bài học.
Hóa học là môn học kết hợp chặt chẽ giữa lí thuyết và thực nghiệm. Hóa học đóng vai trò rất quan trọng đối với đời sống, sản xuất, góp phần vào sự phát triển kinh tế – xã hội. Trong chương trình giáo dục phổ thông mới, Hóa học là môn học được lựa chọn theo nguyện vọng và định hướng nghề nghiệp của HS. Tuy nhiên hiện nay, phần lớn HS (HS) vẫn chưa nhận thức được bản chất và tầm quan trọng của Hóa học trong cuộc sống dù sự đổi mới trong giáo dục nói chung và trong dạy học Hóa học nói riêng đã được đẩy mạnh trong những năm gần đây. Đối với các em, Hóa học là môn học trừu tượng và khô khan. Kể từ năm học 2016 – 2017 đến nay, kì thi THPT Quốc gia có sự tổ hợp các môn tự chọn là khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, với hình thức trắc nghiệm khách quan, thực trạng thấy HS đa phần chuyển sang chọn ban Khoa học xã hội. Do đó, trách nhiệm của GV (GV) giảng dạy môn Khoa học tự nhiên nói chung, GV giảng dạy môn Hóa học nói riêng là làm sao cho HS yêu thích, có hứng thú học tập môn học, khối học.
Với tình hình dịch Covid-19 diễn biến phức tạp như hiện nay thì việc ứng dụng CNTT trong giảng dạy môn Hóa học nói riêng, các môn học khác nói chung ở trường phổ thông nhằm tạo hứng thú học tập cho HS càng trở nên quan trọng và cần thiết. Chính vì thế tôi chọn đề tài “Ứng dụng CNTT nhằm tạo hứng thú học tập cho HS trong giảng dạy phần Hóa học hữu cơ lớp 12 – THPT” với mong muốn nghiên cứu sâu hơn về tính ưu việt, khả năng ứng dụng CNTT trong dạy học nhằm tạo hứng thú học tập môn Hóa cho HS góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Hóa học lớp 12 nói riêng và chất lượng dạy học Hóa học ở trường phổ thông nói chung.
2. Mục đích nghiên cứu
Ứng dụng CNTT để giảng dạy các chủ đề Hóa học hữu cơ trong chương trình Hóa học 12 THPT nhằm tạo hứng thú học tập cho HS, từ đó nâng cao hiệu quả dạy học hóa học, phát triển một số năng lực và kĩ năng cho HS lớp 12 trường THPT.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
– Nghiên cứu cơ sở lí luận của đề tài:
+ Nghiên cứu chương trình, sách giáo khoa hóa học lớp 12 THPT hiện hành, nghiên cứu chương trình GDPT mới (ban hành ngày 26/12/2018).
+ Tìm hiểu về các năng lực chung và chuyên biệt trong dạy học môn Hóa học.
– Nghiên cứu thực trạng việc ứng dụng CNTT trong giảng dạy môn Hóa học nhằm tạo hứng thú học tập cho HS ở trường THPT hiện nay.
– Nghiên cứu và xây dựng học liệu ứng dụng CNTT cho các hoạt động dạy học, bài dạy, chủ đề học tập của phần Hóa học hữu cơ lớp 12 THPT.
– Thiết kế giáo án thực nghiệm giảng dạy kiểm chứng tính khả thi của đề tài.
– Tiến hành thực nghiệm sư phạm nhằm để kiểm tra, đánh giá tính khả thi và tính hiệu quả của các học liệu ứng dụng CNTT đã xây dựng.
4. Phương pháp nghiên cứu
– Nghiên cứu cơ sở lí luận về hứng thú học tập của HS, các vấn đề về ứng dụng CNTT trong dạy học trong nhà trường.
– Nghiên cứu tài liệu, sách giáo khoa, sách tham khảo,… có liên quan. – Khảo sát thực trạng ở trường phổ thông, các phương pháp hỗ trợ, thăm dò ý kiến GV,…
– Thực nghiệm sư phạm.
– Phương pháp thống kê toán học, xử lý kết quả thực nghiệm sư phạm.
5. Kế hoạch nghiên cứu
STT Thời gian Nội dung công việc Sản phẩm
1 Từ 01/7 đến 30/7/2021 Tìm hiểu thực trạng và chọn đề tài, viết đề cương nghiên cứu – Bản đề cương chi tiết của đề tài.
2 Từ 1/8 đến 30/8/2021 – Nghiên cứu lí luận dạy học, PPDH tích cực của bộ môn.
– Khảo sát thực trạng, tổng hợp số liệu năm trước.
– Trao đổi với đồng nghiệp và đề xuất sáng kiến kinh nghiệm. – Tập hợp lý thuyết của đề tài.
– Xử lý số liệu khảo sát được.
– Tổng hợp ý kiến của đồng nghiệp.
3 Từ
01/09/2021 đến
31/11/2021 – Kiểm tra trước thực nghiệm.
– Áp dụng thử nghiệm: Dạy thử, kiểm tra 15 phút. – Xử lý kết quả trước khi thử nghiệm đề tài. – Tổng hợp và xử lý kết quả thử nghiệm đề tài.
4 Từ
01/12/2021 đến
31/01/2022 – Viết sơ lược sáng kiến.
– Xin ý kiến của đồng nghiệp. – Bản thảo sáng kiến.
– Tập hợp đóng góp của đồng nghiệp.
5 Từ 01/02 đến
20/02/2022 Hoàn thành sáng kiến kinh nghiệm Sáng kiến kinh nghiệm chính thức chấm cấp
trường
6 Từ 21/02 đến
20/04/2022 Chỉnh sửa, bổ sung sáng kiến kinh nghiệm sau khi chấm cấp trường Hoàn thành sáng kiến nộp Sở
6. Đóng góp của đề tài
Về mặt lý luận: Góp phần hoàn thiện và đóng góp vào thực tiễn dạy học hóa học ở lớp 12 nói riêng và ở trường THPT nói chung, đáp ứng yêu cầu của chương trình giáo dục THPT mới và thích nghi với sự thay đổi hình thức học trước tình hình dịch Covid19 diễn biến phức tạp.
Về mặt thực tiễn: Bổ sung vào ngân hàng học liệu sử dụng trong dạy học hóa học lớp 12 ở trường THPT theo nội dung chương trình để tạo hứng thú học tập cho HS, từ đó nâng cao hiệu quả dạy học.
PHẦN NỘI DUNG
1. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Hứng thú học tập
1.1.1. Những biểu hiện của hứng thú
– Về mặt trí tuệ:
+ Luôn say mê, tích cực sáng tạo trong tìm hiểu nhận thức sự việc;
+ Có đầu óc tò mò khoa học, ham hiểu biết; sẵn sàng học hỏi và thường xuyên đặt câu hỏi để hiểu sâu vấn đề hơn;
+ Có nhu cầu vận dụng vào thực tiễn cuộc sống và thích làm những công việc khó.
– Về mặt ý chí:
+ Kiên nhẫn suy nghĩ, không ngại khó – sợ khổ, khắc phục khó khăn tìm hiểu vấn đề cho đến cùng;
+ Không nản chí khi gặp thất bại, biết rút ra bài học kinh nghiệm từ những thất bại để đi đến thành công;
+ Chịu khó tìm hiểu (qua internet, các phương tiện thông tin đại chúng hay qua những người xung quanh, …) để nâng cao tầm hiểu biết của mình về vấn đề quan tâm.
– Về mặt năng lực:
Phát triển mạnh mẽ và thế hiện rõ nét những năng lực thuộc lĩnh vực nhận thức như năng lực quan sát, năng lực so sánh, tổng hợp, phân tích, khái quát hóa, trừu tượng hóa,…
– Về mặt tình cảm:
+ Rất phấn khởi trong quá trình tìm hiểu, phát huy sáng kiến hay cải tiến hoạt động;
+ Chủ động dành nhiều thời gian cho việc tìm hiểu, nhận thức;
+ Thích vượt qua những khó khăn và vui sướng, hạnh phúc khi biết thêm một kiến thức mới, vấn đề mới hay hoàn thành mục tiêu đã đề ra.
– Về mặt kết quả:
+ Giúp con người đạt được kết quả cao hơn bình thường; + Thường xuyên thành công trong công việc.
1.1.2. Bản chất của việc tạo hứng thú trong dạy học
Hứng thú của con người không phải là những thuộc tính có sẵn hay mang tính bẩm sinh. Việc hình thành hứng thú không phải là quá trình tự phát bên trong của bản thân cá nhân mà nó bị quy định bởi môi trường xã hội xung quanh. Hứng thú kèm theo và ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lí cá nhân. Hứng thú như là hiện tượng tâm lý – giáo dục với những tính chất phức tạp bởi vì nó không chỉ phụ thuộc vào đối tượng mà còn phụ thuộc vào con người hướng dẫn, giáo dục, di truyền, khả năng tập trung hứng thú. Hứng thú luôn có khuynh hướng về một đối tượng nhất định, các hứng thú của con người rất đa dạng tùy theo kinh nghiệm và sự phát triển cá nhân. Vì vậy, bản chất của hứng thú trong dạy học bao gồm:
– Hứng thú là kết quả của sự hình thành và phát triển cá nhân
– Hứng thú có liên quan mật thiết với nhu cầu
– Hứng thú nhận thức là động cơ của hoạt động học tập
– Hứng thú là một phương tiện dạy học
– Hứng thú trong dạy học là quá trình tác động từ phía GV và môi trường học tập vào HS, khiến các em chú ý, tập trung vào nội dung học tập
1.1.3. Các biện pháp tạo hứng thú học tập cho HS
Như chúng ta đã biết, việc tạo hứng thú học tập cho HS thực sự đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo mục tiêu của môn học. Chính vì thế, GV khi lên lớp, điều đầu tiên là phải tạo được hứng thú học tập cho HS bằng các cách sau đây:
Thứ nhất, có thể tạo hứng thú học tập bằng cách làm cho HS nhận thức được mục tiêu, lợi ích của bài học
Thứ hai, có thể tạo hứng thú học tập bằng cách tác động vào nội dung dạy học
Thứ ba, có thể tạo hứng thú học tập bằng cách phối hợp các phương pháp và các hình thức dạy học linh hoạt. Việc phối hợp này thông qua các hình thức như tổ chức các trò chơi học tập, tổ chức hoạt động học theo nhóm, tổ chức dạy học ngoài trời.
Có thể nói, sự kết hợp phương pháp và hình thức tổ chức dạy học là sự kết hợp mang tính linh hoạt mềm dẻo, đa dạng nhất trong quá trình dạy học, tác động vào nó có nhiều lợi thế nhất để tạo hứng thú học tập cho HS. Vậy thực chất của việc tạo hứng thú học toán cho HS bằng sự kết hợp phương pháp và hình thức tổ chức dạy học là tạo ra được các tình huống để HS tiếp cận, vận dụng nội dung hóa học thiết thực và tự nhiên. Sự hình thành mỗi kiến thức hóa học như sự phát triển tất yếu của hệ thống các nhu cầu nhận thức của họ. Khi các nhu cầu nhận thức được thỏa mãn thì đó chính là bản chất bên trong của hứng thú chứ không phải là các khẩu hiệu hoặc biểu tượng bề ngoài. Phương pháp dạy học thể hiện vai trò là phương tiện tư tưởng ở chỗ tạo được điểm tựa để HS tự trải nghiệm; tự điều chỉnh các kiến thức và kỹ năng sẵn có để tiếp nhận tri thức mới vào hệ thống tri thức của cá nhân. Yêu cầu này chỉ được hiện thực hóa thông qua việc thiết kế công phu từng hoạt động thành phần cho mỗi nội dung học tập của HS.
1.1.4. Tác dụng của việc tạo hứng thú trong dạy học Hóa học
Hóa học là môn khoa học lý thuyết và thực nghiệm. Kiến thức Hóa học rộng lớn, không chỉ bao gồm những định luật, quy luật, học thuyết cơ bản mà còn bao gồm cả những nội dung thực nghiệm cần HS nắm bắt. Gây hứng thú trong dạy học Hóa học tạo nguồn kích thích tới HS, từ đó các em thêm say mê tìm hiểu môn Hóa học và đem lại hiệu quả trong việc tìm tòi, tiếp thu kiến thức. Việc gây hứng thú trong dạy học mang lại một số tác dụng đặc biệt như sau:
– Đối với GV:
+ Truyền đạt kiến thức dễ dàng, nhanh chóng, hiệu quả, kích thích được sự say mê môn học của HS, giúp HS tập trung hơn.
+ Tạo được không khí tích cực học tập thì sẽ tạo được 50% trong mục tiêu dạy học đặt ra.
– Đối với HS:
+ Tiết học nhẹ nhàng, sinh động
+ HS thích học hơn và nhớ bài lâu hơn
+ Tạo mối quan hệ gần gũi giữa GV và HS
+ Giúp GV điều chỉnh hình thức dạy học

0/5 (0 Reviews)
0/5 (0 Reviews)

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

Theo dõi
Thông báo của
guest