SKKN Ứng dụng mô hình lớp học đảo ngược vào dạy học chuyên đề Trái Đất và bầu trời Vật lí lớp 10 THPT

Giá:
100.000 đ
Môn: Vật lí
Lớp: 10
Bộ sách: Cánh diều
Lượt xem: 690
Lượt tải: 9
Số trang: 66
Tác giả:
Trình độ chuyên môn:
Đơn vị công tác:
Năm viết:
Số trang: 66
Tác giả:
Trình độ chuyên môn:
Đơn vị công tác:
Năm viết:

Sáng kiến kinh nghiệm “SKKN Ứng dụng mô hình lớp học đảo ngược vào dạy học chuyên đề Trái Đất và bầu trời Vật lí lớp 10 THPT“ triển khai các biện pháp như sau: 

2.4.1.Động cơ hóa hoạt động học tập của học sinh
2.4.2.Hướng dẫn HS chọn lọc tư liệu, tình huống liên quan đến nội dung bài học qua các kênh thông tin đại chúng hoặc qua thực tế đời sống phù hợp với môn học.
2.4.3.Tổ chức cho HS làm việc theo nhóm kết hợp với thảo luận lớp.
2.4.4.Xây dựng ý thức tự học trong quá trình ứng dụng mô hình đảo ngược

Mô tả sản phẩm

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài
Ngày 04/11/2013 tại Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI đã ban hành Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục. Nghị quyết chỉ rõ: “Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị
kiến thứ c sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giá o duc̣ xã hội.”; “…Đối với giáo dục phổ thông, tập trung phát triển trítuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho HS. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời”. Muốn thực hiện được những mục tiêu trên nhà giáo dục cần phải tìm tòi, nghiên cứu và đề xuất áp dụng những phương pháp mới nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, khả năng tự học của HS.
Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT ban hành Chương trình giáo dục phổ thông mới đã cụ thể hóa mục tiêu giáo dục phổ thông nhấn mạnh việc đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) theo định hướng phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh (HS) và trọng tâm là hình thành, phát triển năng lực tự học. Năng lực tự học là khả năng huy động, tổng hợp kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính tâm lí cá nhân như hứng thú, niềm tin, ý chí để thực hiện thành công việc vận dụng tri thức đã học để giải quyết được các vấn đề thực tiễn.
Vật lí là môn thuộc nhóm khoa học tự nhiên được HS lựa chọn theo định hướng nghề nghiệp, sở thích và năng lực của bản thân, với đặc thù là bộ môn khoa học thực nghiệm, có nhiều kiến thức liên quan đến thực tiễn. Để đáp ứng được mục tiêu chung và mục tiêu đặc thù của môn học cần sử dụng phương pháp dạy học tích cực, lấy HS làm trung tâm nhằm tích cực hóa hoạt động học tập và phát triển tính sáng tạo của người học. Người học chủ động, tích cực tham gia vào quá trình khám phá, vận dụng kiến thức để lĩnh hội nội dung bài học, tạo điều kiện cho HS phát triển tối đa khả năng học tập, năng lực sáng tạo, giải quyết vấn đề.
Vì vậy các trường THPT đã triển khai nhiều phương pháp dạy học mới. Tuy nhiên việc thực hiện phương pháp dạy học mới còn mang tính tiếp cận, nên hiệu quả chưa cao. Dưới sự tổ chức, hướng dẫn hoạt động học tập của GV cho HS, thì phần lớn HS học tập một cách thụ động, chỉ đơn thuần là nhớ máy móc để vận dụng kiến thức vào giải bài tập, vào thực tế mà chưa rèn luyện kỹ năng tư duy, rèn luyện khả năng tự học tự tổng hợp để lĩnh hội kiến thức từ tài liệu. Vì vậy GV cần phải tìm phương pháp dạy học phù hợp cho từng nội dung, chuyên đề tạo hứng thú cho HS khám phá kiến thức mới, lĩnh hội, xâu chuỗi kiến thức một cách chủ động

tích cực, giúp HS hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất của người học bộ môn Vật lí.
Năm học 2022-2023 đối với bộ môn Vật lí lớp 10, GV mới được tiếp cận sách giáo khoa và dạy học lần đầu với chương trình mới nên sẽ có nhiều khó khăn, trăn trở trong việc lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp giữa đối tượng người học và lượng kiến thức để đảm bảo tính tích cực chủ động, hiệu quả cho người học. Đặc biệt là các chuyên đề Vật lí với lượng kiến thức nhiều, nhưng thời gian phân bố dạy chuyên đề lại ít. Bên cạnh đó kiến thức thực tế hay, HS có thể khai thác thêm thông tin ngoài sách giáo khoa thông qua sách báo, mạng internet để hiểu rõ, sâu rộng về các chuyên đề học tập.
Đối với các chuyên đề Vật lí nói chung, chuyên đề “Trái Đất và bầu trời” nói riêng là một chuyên đề thực tế, khó học và mới mẻ mà các HS vẫn thấy như: bầu trời đầy sao, các chòm sao, nhật thực, nguyệt thực, thủy triều… mà các em chưa hiểu, hoặc hiểu chưa rõ về chúng. Vì vậy, học chuyên đề này mục đích các em hiểu đúng, hiểu rõ các hiện tượng tự nhiên. Sách giáo khoa chuyên đề đã cung cấp kiến thức trọng tâm, tuy nhiên GV khai thác thông tin qua tài liệu sách báo, mạng internet, hướng dẫn HS học tập phù hợp để việc học tập của HS chủ động, tích cực, tạo hứng thú cho người học nhằm đạt được yêu cầu mục tiêu phẩm chất và năng lực của người học đối với chuyên đề học tập.
Trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghệ 4.0 đang diễn ra mạnh mẽ trong mọi lĩnh vực thì việc dạy học ứng dụng kết hợp công nghệ thông tin đã và đang trở thành xu thế tất yếu ở mọi cấp học, làm cho người học trở nên chủ động hơn trong việc tiếp thu kiến thức kĩ năng, từ đó hình thành các phẩm chất và năng lực cần có. Dựa trên cơ sở đó đã có nhiều phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực đã được nghiên cứu, áp dụng, trong đó có mô hình “lớp học đảo ngược”.
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi quyết định nghiên cứu đề tài “Ứng dụng mô hình lớp học đảo ngược vào dạy học chuyên đề Trái Đất và bầu trời Vật lí lớp 10 THPT”.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
– Chủ thể:
+ Quá trình dạy học Vật lí tại trường THPT.
+ Ứng dụng mô hình đảo ngược vào chuyên đề “Trái Đất và bầu trời” Vật lí 10 THPT nhằm nâng cao chất lượng dạy học chuyên đề này.
– Khách thể: HS khối 10
2.2. Phạm vi nghiên cứu
– Chuyên đề “Trái Đất và bầu trời” Vật lí 10 THPT
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
– Nghiên cứu cơ sở lý luận về mô hình dạy học lớp học đảo ngược và Cơ sở lý luận phát triển năng lực tự học cho HS trong dạy học Vật lý ở trường THPT.
– Nghiên cứu chương trình và SGK CĐ Vật lí 10 bộ sách cánh diều, cụ thể CĐ: Trái Đất và bầu trời.
– Nghiên cứu mục tiêu, phẩm chất, năng lực, cấu trúc, nội dung CĐ “Trái Đất và bầu trời” Vật lý 10.
– Nghiên cứu các phương pháp và cách thức để ứng dụng mô hình lớp học đảo ngược vào dạy học CĐ: “Trái Đất và bầu trời” Vật lý 10.
– Thiết kế Kế hoạch bài giảng chyên đề theo định hướng của chương trình giáo dục phổ thông 2018.
– Phương pháp điều tra, tìm hiểu thực tế.
– Quan sát, phân tích, tổng hợp các phiếu điều tra, thăm dò và đánh giá thực trạng.
– Thực nghiệm sư phạm để kiểm tra, đánh giá tính khả thi và tính hiệu quả của đề tài.
– Kết luận và đề xuất.

5. Tính mới, đóng góp của đề tài
– Đề tài phân tích, hệ thống cơ sở lý luận, thực tiễn để xây dựng bài học CĐHT Trái Đất và bầu trời, ứng dụng mô hình đảo ngược vào dạy học trực tiếp hoặc trực tiếp kết học trực tuyến trong trường hợp ứng phó thiên tai, dịch bệnh.
– Xác định được những nguyên tắc xây dựng và sử dựng mô hình dạy học vào chuyên đề.
– Xây dựng kế hoạch bài dạy CĐHT “Trái Đất và bầu trời” sử dụng mô hình đảo ngược nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Vật lí trong học tập các CĐ.
– Chỉ ra sự vận dụng phương pháp dạy học dự án vào trong quá trình xây dựng và tổ chức dạy học CĐHT “Trái Đất và bầu trời”.
– Đề xuất giải pháp sử dụng mô hình đảo ngược nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Vật lí trong học tập các CĐ Vật lí.
– Trình bày được phương pháp thực nghiệm, kết quả và bài học kinh nghiệm rút ra từ quá trình thực nghiệm.
PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ỨNG DỤNG MÔ HÌNH LỚP HỌC ĐẢO NGƯỢC TRONG DẠY HỌC CHUYÊN ĐỀ
1. Cơ sở lý luận
1.1. Cơ sở lý luận về dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược
1.1.1. Khái niệm mô hình lớp học đảo ngược.
Mô hình lớp học đảo ngược (Flipped classroom) là một phương pháp đào tạo mới lấy người học làm trung tâm, trong đó GV cung cấp nội dung học tập cho người học trước khi lên lớp. Nó là mô hình truyền đạt trong đó các nội dung bài giảng và bài tập về nhà được đảo ngược cho nhau. HS xem nghiên cứu nội dung các bài giảng trước buổi học, còn thời gian trên lớp dành cho các bài tập luyện tập, vận dụng. HS có thể trao đổi các thắc mắc về nội dung bài học đồng thời GV kiểm tra khả năng áp dụng kiến thức của HS.
1.1.2. Mục tiêu dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược.
Lớp học đảo ngược, với mục tiêu chính là tăng cường năng lực tự học, tự nghiên cứu của HS bằng cách đảo ngược mô hình truyền thống của lớp học và dành thời gian cho HS hiểu chứ không chỉ thuyết giảng để HS lắng nghe, là một phong cách học tập có rất nhiều lợi thế tiềm năng.
Trong lớp học đảo ngược, GV đóng vai trò là người điều tiết hỗ trợ, đưa ra các tình huống có vấn đề để hướng dẫn người học giải quyết từ đó, tiết kiệm thời gian và tạo cơ hội phát triển tư duy cho HS. Việc tổ chức dạy học áp dụng theo mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học trực tuyến với sự hỗ trợ của phần mềm chuyên dụng sẽ giúp cho hiệu quả của hoạt động này tốt hơn. HS hứng thú và chủ động hơn trong việc tiếp cận kiến thức, rèn cho mình được nhiều kỹ năng; GV dành được nhiều thời gian trên lớp học (khi giảng dạy theo thời gian thực) để trao đổi, kiểm tra, nắm bắt tình hình học tập của HS cũng như có điều kiện để khai thác, mở rộng vấn đề cần nghiên cứu đồng thời là cơ hội rất tốt để GV giúp HS học bồi dưỡng năng lực tự học của mình với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin.
1.1.3. Những thuận lợi trong dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược.
– HS có nhiều quyền kiểm soát hơn
Trong phương pháp dạy học lấy HS làm trung tâm, thì đó chính là điều kiện để HS có thể phát triển năng lực vốn có của mình và kiểm soát việc học của bản thân tốt hơn. Bằng cách giao các nhiệm vụ cụ thể về nhà, HS có thể tự do điều phối các công việc và học tập theo tốc độ riêng của mỗi người, nghiên cứu lại các câu hỏi cần lời giải đáp và sử dụng các vấn đề cần quan tâm để làm chất liệu thảo luận với GV, bạn bè trong lớp.
– Khuyến khích việc học tập, lấy HS làm trung tâm và cộng tác
Lớp học đảo ngược có đặc trưng là dành nhiều thời gian để HS có thể làm chủ các kỹ năng, thông qua các dự án và công tác thảo luận.
Điểm mạnh của việc này là nó khuyến khích HS cùng nhau dạy và học các khái niệm, dưới sự dẫn dắt bài học của GV. Thông qua việc làm chủ quá trình học tập của bản thân, họ có thể sở hữu những kiến thức đã đạt được chứ không chỉ học thuộc lòng một dạng kiến thức suông, từ đó, tạo sự tự tin với những kiến thức đã tiếp tục.
– Những bài học và nội dung dễ dàng để tiếp cận hơn.
Khi tiếp cận công nghệ, HS sẽ dễ dàng tiếp cận với các nội dung bài học mà không cần phải lo sợ bỏ lỡ các buổi học như các phương pháp học tập truyền thống.
Nhờ các video bài giảng có sẵn, HS nghỉ học vì các lý do bất khả kháng như đau ốm, tham gia các hoạt động thể thao, đi chơi hoặc các trường hợp khẩn cấp khác,… có thể nhanh chóng bắt kịp tiến độ học tập. Điều này cũng đồng thời tạo điều kiện để GV linh hoạt hơn trong việc điểm danh HS.
– Tạo điều kiện cho phụ huynh biết tình hình trong lớp học
Khác với các lớp học theo phương pháp giảng dạy truyền thống, lớp học đảo ngược cho phép phụ huynh có thể truy cập và xem các video bài giảng của HS bất cứ khi nào. Điều này giúp phụ huynh có thể hỗ trợ việc học của con em mình được tốt hơn, đồng thời giúp phụ huynh có cái nhìn sâu hơn về chất lượng giảng dạy tại cơ sở mà con họ đang được tiếp nhận.
– Cải thiện việc học trở nên hiệu quả hơn
Nếu được thực hiện đúng cách, trong một lớp học đảo ngược, HS sẽ có nhiều thời gian tận hưởng việc học hơn, hoặc là được vui chơi hoặc thực hành nhiều hơn.
Nhờ có lớp học đảo ngược, các bài giảng online chỉ dài 10 phút, điều này giúp cả HS lẫn GV có thêm thời gian dành cho các mối quan tâm khác như bạn bè, gia đình và sở thích cá nhân.
– Môi trường học tập linh hoạt
HS – sinh viên được lựa chọn thời gian và địa điểm học tập cũng như hình thức học phù hợp với trình độ của mình. Tương tự với các HS, phía GV có thể linh hoạt trong việc điều chỉnh thời gian học trên lớp sao cho hợp lý. Những tương tác cũng trở nên tích cực và không bị gói gọn trong những bài học khô khan, tạo mối liên kết tốt với HS.
– Nội dung bài học được xây dựng có chủ ý
HS có thể dừng lại ở những phần bài học trọng tâm, những phần HS chưa hiểu để khái quát hơn về vấn đề, tránh lan man và dành thời lượng không phù hợp cho bài học, lướt qua những ý đã nắm được.
Vì HS xem trước bài giảng và hướng dẫn ở nhà, họ sẽ có định hướng trong việc đặt câu hỏi, thảo luận, đào sâu vấn đề khi lên lớp. Thời gian cần đến sự tập trung cao độ được rút ngắn, giúp tinh thần học tập minh mẫn hơn. Đây cũng là một giải pháp tiết kiệm năng lượng, thời gian rất hữu hiệu. Chỉ cần 1 powerpoint/ video được thiết kế, quay dựng 1 lần và được chia sẻ với các HS khác để thay thế tất cả các yếu tố phụ đạo, dạy thêm cho những HS chưa theo kịp.
1.1.4. Những khó khăn trong dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược.
– Ứng dụng mô hình gặp khó khăn khi HS không tiếp cận được công nghệ
Không phải ai cũng rành về công nghệ. Một số HS không bắt kịp việc sử dụng công nghệ sẽ không theo kịp các bạn cùng lớp. Đây là một trong những vấn đề nổi bật nhất khi mà nhu cầu sử dụng máy tính và Internet của HS để xem các bài giảng online là một trong những điều tiên quyết cần phải làm được khi áp dụng lớp học đảo ngược. Song nó sẽ gây ra những khó khăn, bất cập đối với HS có thu nhập thấp, bị hạn chế tiếp cận với tài nguyên.
– Phụ thuộc nhiều vào sự chuẩn bị
Việc HS được quyền sắp xếp thời gian và địa điểm học vừa là ưu điểm, cũng có thể là nhược điểm cực kỳ lớn. Nếu bản thân HS không chủ động xem trước bài giảng ở nhà thì khi vào lớp sẽ không theo kịp các bạn.
– Đặt vấn đề về sự chuẩn bị và nỗ lực của GV
Việc vận hành lớp học đảo ngược nhìn thì có vẻ như giảm tải thời gian đứng lớn và truyền tải kiến thức một cách truyền thống, nhưng thực tế lại vô tình sẽ làm tăng thêm lượng công việc cho GV. Bởi lẽ, nó đòi hỏi sự tích hợp rất cẩn thận để lớp học được duy trì và phát triển. Mặt khác, các nhiệm vụ như ghi âm, edit và đăng tải các bài giảng đều là những công việc cần thời gian và kỹ năng mà không phải GV nào cũng có chuyên môn trong việc này.

0/5 (0 Reviews)
0/5 (0 Reviews)

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

SKKN Hướng dẫn học sinh thiết kế chế tạo một số phương án thí nghiệm có SD cảm biến trên điện thoại thông minh áp dụng khi tổ chức dạy học Vật lí
10,12
VẬT LÍ
4.5/5

100.000 

Theo dõi
Thông báo của
guest
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
Set your categories menu in Theme Settings -> Header -> Menu -> Mobile menu (categories)
Shopping cart

KẾT NỐI NGAY VỚI KIẾN EDU

Chúng tôi luôn sẵn sàng lắng nghe và đưa ra giải pháp phù hợp nhất cho vấn đề của bạn.

0886945229

Email

kienedu.com@gmail.com

Đây chỉ là bản XEM THỬ - khách hàng vui lòng chọn mua tài liệu và thanh toán để nhận bản đầy đủ

TẢI TÀI LIỆU

Bước 1: Chuyển phí tải tài liệu vào số tài khoản sau với nội dung: Mã tài liệu

Chủ TK: Ngô Thị Mai Lan

STK Agribank: 2904281013397 Copy
* (Nếu khách hàng sử dụng ngân hàng Agribank thì chuyển tiền vào STK Agribank để tránh bị lỗi treo giao dịch)
STK TPbank: 23665416789 Copy
tài khoản tpbank kienedu

Bước 2: Gửi ảnh chụp giao dịch vào Zalo kèm mã tài liệu để nhận tài liệu qua Zalo hoặc email

Nhắn tin tới Zalo Kiến Edu (nhấn vào đây để xác nhận và nhận tài liệu!)