SKKN Xây dựng bài tập hóa vô cơ 10 liên quan thực tiễn đời sống để lồng ghép trong bài học theo định hướng phát triển năng lực học sinh

Giá:
100.000 đ
Cấp học: THPT
Môn: Hóa học
Lớp: 10
Bộ sách:
Lượt xem: 849
File:
TÀI LIỆU WORD
Số trang:
51
Lượt tải:
12

Sáng kiến kinh nghiệm “SKKN Xây dựng bài tập hóa vô cơ 10 liên quan thực tiễn đời sống để lồng ghép trong bài học theo định hướng phát triển năng lực học sinh” triển khai các biện pháp như sau: 

– Xây dựng được hệ thống câu hỏi, bài tập liên quan thực tiễn thuộc chương oxi-lưu huỳnh, halogen áp dụng trong bài học góp phần phát huy tính tích cực, sáng tạo trong hoạt động học tập của học sinh.
– Phân tích được tác dụng của các bài tập thực tiễn đến sự phát triển năng lực và phẩm chất của HS.
– Không chỉ hỗ trợ cho việc học tập có hiệu quả, hệ thống câu hỏi, bài tập thực tiễn còn góp phần giúp học sinh thêm yêu thích môn hóa học, bồi dưỡng phương pháp tự học, tự khám phá để chiếm lĩnh tri thức

Mô tả sản phẩm

PHẦN I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài:
Hóa học là ngành khoa học thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên, nghiên cứu về thành phần cấu trúc, tính chất và sự biến đổi của các đơn chất và hợp chất. Mà các chất xung quanh chúng ta đều tạo nên từ nguyên tử của các nguyên tố hóa học. Vậy nên đối tượng nghiên cứu của môn hóa rất quen thuộc, rất gần gũi. Tuy vậy, các em học sinh lại thường không để ý đến thành phần, cấu tạo của các vật dụng, đồ dùng xung quanh, nên chưa có được mối liên hệ giữa bài học và thực tiễn đời sống. Bên cạnh đó, hiện nay trong dạy học vấn đề được quan tâm hàng đầu là dạy học theo định hướng phát triển năng lực của người học. Trong đó môn hóa cần hình thành và phát triển ở học sinh năng lực hóa học, đồng thời góp phần cùng với các môn học, hoạt động giáo dục khác hình thành, phát triển ở học sinh các phẩm chất chủ yếu và năng lực chung, đặc biệt là thế giới quan khoa học, hứng thú học tập, thái độ tôn trọng các quy luật của tự nhiên, ứng xử với thiên nhiên phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững.
Thực tế dạy học cho thấy, nếu chỉ cung cấp cho học sinh những kiến thức hóa học về mặt lý thuyết thì các em sẽ nhanh quên, chỉ khi vận dụng các kiến thức vào giải bài tập thì học sinh mới nắm được kiến thức một các sâu sắc. Bài tập hóa học (BTHH) đóng vai trò rất quan trọng, vừa là mục đích, vừa là nội dung, lại là phương pháp dạy học (PPDH) hiểu quả.
Trong quá trình dạy học, BTHH được sử dụng trong tất cả các dạng bài dạy, từ dạng bài luyện tập, ôn tập, đến bài dạy nghiên cứu kiến thức mới. BTHH giúp mở rộng, đào sâu kiến thức và có ý nghĩa quan trọng trong việc hình thành nhận thức cũng như phát triển năng lực cho học sinh.
Vì những lí do trên, tôi viết đề tài “Xây dựng bài tập hóa vô cơ 10 liên quan thực tiễn đời sống để lồng ghép trong bài học theo định hướng phát triển năng lực học sinh”.
Mục đích nghiên cứu:
Góp phần nâng cao hiệu quả dạy – học của giáo viên và học sinh, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đại trà.
Nhằm phát huy tính tích cực, sáng tạo trong hoạt động học tập của học sinh thông qua việc dạy học hóa học gắn liền với thực tiễn.
Lựa chọn và xây dựng hệ thống bài tập thực tiễn chương oxi-lưu huỳnh, halogen lớp 10 chương trình cơ bản và nghiên cứu sử dụng chúng.
Đối tượng nghiên cứu:
Hóa phi kim lớp 10 cơ bản : chương oxi-lưu huỳnh, halogen
HS lớp 10 trường THPT Lê Lợi
Nhiệm vụ nghiên cứu:
– Nghiên cứu về cơ sở lý luận của đề tài, các vấn đề : Bài tập hóa học thựctiễn; Cấu trúc của một bài tập.
– Xây dựng hệ thống bài tập thực tiễn chương oxi-lưu huỳnh, halogen.
– Thực nghiệm sư phạm để đánh giá chất lượng hệ thống bài tập và hiệu quả của việc sử dụng chúng trong giảng dạy hóa học ở trường THPT.
5. Phương pháp nghiên cứu:
– Phương pháp nghiên cứu lí luận.
– Phương pháp điều tra quan sát.
– Phương pháp thực nghiệm sư phạm.
6. Đóng góp của đề tài:
– Xây dựng được hệ thống câu hỏi, bài tập liên quan thực tiễn thuộc chương oxi-lưu huỳnh, halogen áp dụng trong bài học góp phần phát huy tính tích cực, sáng tạo trong hoạt động học tập của học sinh.
– Phân tích được tác dụng của các bài tập thực tiễn đến sự phát triển năng lực và phẩm chất của HS.
– Không chỉ hỗ trợ cho việc học tập có hiệu quả, hệ thống câu hỏi, bài tập thực tiễn còn góp phần giúp học sinh thêm yêu thích môn hóa học, bồi dưỡng phương pháp tự học, tự khám phá để chiếm lĩnh tri thức.
PHẦN II: NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI
CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN.
* Cơ sở lý luận:
1.1 Đổi mới phương pháp dạy học ở trường THPT theo định hướng phát triển năng lực.
Dạy học theo định hướng phát triển năng lực là quá trình dạy học nhằm giúp học sinh hình thành, phát triển khả năng huy động tổng hợp mọi nguồn lực (bao gồm những tố chất sẵn có, kinh nghiệm, kiến thức, kỹ năng, hứng thú, niềm tin, ý chí…) để thực hiện thành công hoạt động trong những bối cảnh nhất định.
Có thể thấy, dạy học theo định hướng phát triển năng lực là quá trình dạy học hướng đến kết quả đầu ra. Trong quá trình ấy, dưới sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên, học sinh tự giác, chủ động tham gia vào các hoạt động học tập để từng bước hình thành, phát triển cho bản thân những năng lực cần thiết, những năng lực này được mô tả một cách cụ thể, chi tiết và có quan sát, đánh giá được.
1.2. Năng lực và sự phát triển năng lực cho học sinh trong dạy học hóa học ở trường THPT.
1.2.1. Năng lực.
Theo chương trình GDPT tổng thể năm 2018: “Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,… thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể.
Từ định nghĩa này, chúng ta có thể rút ra những đặc điểm chính của năng lực là:
– Năng lực là sự kết hợp giữa tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện của người học.
– Năng lực là kết quả huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,…
– Năng lực được hình thành, phát triển thông qua hoạt động và thể hiện ở sự thành công trong hoạt động thực tiễn.
1.2.2. Năng lực cho học sinh THPT:
Những năng lực chung sẽ được nhà trường và giáo viên giúp các em học sinh phát triển trong chương trình giáo dục phổ thông là:
– Năng lực tự chủ và tự học
– Năng lực giao tiếp và hợp tác.
– Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo.
1.2.3. Năng lực đặc thù hóa học trong bài dạy hóa học vô cơ 10.
Trong chương trình giáo dục phổ thông, mỗi môn học đều có đặc thù riêng và có thế mạnh để hình thành và phát triển năng lực đặc thù của môn học. Trong các môn học đó, Hóa học là môn học có điều kiện thuận lợi để triển khai đổi mới dạy học và đánh giá theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh.
Ngoài việc hình thành và phát triển các năng lực chung thì môn Hóa học cũng nhằm mục tiêu phát triển 6 năng lực đặc thù:
– Năng lực sử dụng ngôn ngữ hóa học
– Năng lực nghiên cứu và thực hành hóa học
– Năng lực tính toán
– Năng lực giải quyết vấn đề thông qua môn Hóa học
– Năng lực vận dụng kiến thức hóa học vào cuộc sống
– Năng lực sáng tạo
1.3. Dạy học phát triển năng lực vận dụng kiến thức hóa học cho học sinh.
1.3.1 Khái niệm về vận dụng kiến thức trong dạy học.
Năng lực vận dụng kiến thức của HS là khả năng của bản thân người học huy động, sử dụng những kiến thức, kỹ năng đã học trên lớp hoặc học qua trải nghiệm thực tế của cuộc sống để giải quyết những vấn đề đặt ra trong những tình huống đa dạng và phức tạp của đời sống một cách hiệu quả và có khả năng biến đổi vó. Năng lực vận dụng kiến thức thể hiện phẩm chất, nhân cách của con người trong quá trình hoạt động để thỏa mãn nhu cầu chiếm lĩnh tri thức.
1.3.2. Năng lực vận dụng kiến thức hóa học của học sinh.
Năng lực vận dụng kiến thức hóa học vào thực tiễn của HS THPT được mô tả gồm các năng lực thành phần và các mức độ thể hiện như sau:
– Năng lực hệ thống hóa kiến thức
– Năng lực phân tích, tổng hợp các kiến thức hóa học vận dụng vào cuộcsống thực tiễn.
– Năng lực phát hiện các nội dung kiến thức hóa học được ứng dụng trongcác vấn đề, các lĩnh vực khác nhau
– Năng lực phát hiện các vấn đề trong thực tiễn và sử dụng kiến thức hóa họcđể giải thích.
– Năng lực độc lập sáng tạo trong việc xử lí các vấn đề thực tiễn
1.4. Bài Tập hóa học có nội dung thực tiễn.
1.4.1. Khái niệm bài tập hóa học có nội dung thực tiễn.
Bài tập hóa học có nội dung thực tiễn là các bài tập HH có nội dung gắn liền với thực tiễn đời sống, yêu cầu HS phải vận dụng kiến thức HH để giải quyết các vấn đề do chính thực tiễn đặt ra như giải thích hiện tượng tự nhiên, lý giải thói quen sinh hoạt và lao động, bảo vệ môi trường, phân tích quy trình sản xuất, phương pháp thực nghiệm, ….
1.4.2. Ý nghĩa, tác dụng của BTHH có nội dung thực tiễn trong day họctích cực.
Sử dụng BTTT trong dạy và học HH không chỉ phát huy tác dụng chung của bài tập HH mà còn có thêm những tác dụng sau:
– Rèn luyện và phát triển các kĩ năng học tập: thu thập thông tin, vận dụngkiến thức cơ bản để xử lí các tình huống, lựa chọn kiến thức để giải quyết vấn đề thực tiễn, …
– Rèn luyện và phát triển các kĩ năng tư duy: phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu,…
– Rèn luyện khả năng vận dụng kiến thức HH vào việc phát hiện và giảiquyết những vấn đề do thực tiễn đặt ra, từ đó hiểu sâu và mở rộng kiến thức, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống.
– Giúp HS hiểu biết về thiên nhiên, tài nguyên, môi trường, các hoạt độngcủa con người trong đời sống, sản xuất và những vấn đề thời sự mang tính toàn cầu.
– Tạo điều kiện cho HS sử dụng nhiều giác quan, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong quá trình học tập.
– Giúp HS sống có trách nhiệm hơn đối với gia đình, cộng đồng và xã hội.
– Giáo dục tư tưởng đạo đức, rèn tính chính xác, kiên nhẫn, kích thích sự hứng thú, trí tò mò, lòng say mê nghiên cứu khoa học công nghệ.
1.4.3. Phân loại BTHH có nội dung thực tiễn.
* Dựa vào tính chất của bài tập có thể chia thành:
– Bài tập định tính: Bao gồm các bài tập về giải thích hiện tượng, các tìnhhuống nảy sinh trong thực tiễn, lựa chọn hóa chất cần dùng cho phù hợp với tình huống thực tiễn, nhận biết, tinh chế, đề ra phương hướng để cải tạo thực tiễn…
– Bài tập định lượng : Bao gồm dạng bài tập về tính lượng hóa chất cần dùng, pha chế dung dịch…
– Bài tập tổng hợp: Bao gồm cả kiến thức định tính lẫn định lượng.
*Dựa vào lĩnh vực thực tiễn được gắn với nội dung bài học có thể chiathành: – Bài tập về sản xuất hóa học.
– Bài tập về các vấn đề trong đời sống, học tập, lao động và sản xuất   – Bài tập có liên quan đến môi trường và vấn đề bảo vệ môi trường.
*Dựa vào mức độ nhận thức của HS, căn cứ vào chất lượng của quá trình lĩnh hội và kết quả học tập, GS. Nguyễn Ngọc Quang đã đưa ra 4 mức độ như sau:
– Mức độ 1: Chỉ yêu cầu HS tái hiện kiến thức để trả lời câu hỏi lý thuyết.
– Mức độ 2: Yêu cầu HS vận dụng kiến thức để giải thích được các sự kiện, hiện tượng của câu hỏi lý thuyết.
– Mức độ 3: Yêu cầu HS vận dụng kiến thức hóa học để giải thích những tình huống xảy ra trong thực tiễn.
– Mực độ 4: Yêu cầu HS vận dụng kiến thức, kỹ năng hóa học để giải quyếtnhững tình huống thực tiễn hoặc để thực hiện một công trình nghiên cứu khoa học nhỏ, đơn giản, đề ra kế hoạch hành động củ thể, viết báo cáo.
Trên đây là một số cách phân loại BTHH thực tiễn. Tuy nhiên có nhiều BTHH thực tiễn lại là tổng hợp của rất nhiều loại bài.
1.4.4. Xu hướng xây dựng BTHH có nội dung thực tiễn ở trường THPT.
Khi xây dựng BTHH có nội dung thực tiễn ở trường THPT cần đảm bảo các yêu cầu sau
– Được trình bày rõ ràng- Có ít nhất một lời giải.
– Với những dữ kiện cho trước HS có thể tự lực giải được.
– Không giải qua đoán mò được.
– Không định hướng theo nội dung trừu tượng mà luôn theo các tình huống cuộc sống của HS.
– Nội dung học tập luôn gắn với tình huống, bối cảnh thực tiễn.
1.4.5. Bài tập định hướng phát triển năng lực.
Bài tập định hướng phát triển năng lực có đặc điểm sau:
– Yêu cầu của bài tập có mức độ khó khác nhau như : Tái hiện, Hiểu và vậndụng, Xử lý và giải quyết vấn đề.
– Hỗ trợ học và tích lũy: Liên kết được nội dung trong suốt quá trình học tập, vận dụng thường xuyên các kiến thức đã học.
– Bao gồm cả những bài tập cho hợp tác và giao tiếp: Tăng cường NL xã hộithông qua làm việc nhóm như lập luận, lý giải, phản ánh để phát triển và củng cố tri thức.
– Tích cực hóa hoạt động nhận thức: Kết nối với kinh nghiệm đời sống, phát triển các chiến lược giải quyết vấn đề.
– Có những con đường và giải pháp khác nhau: đặt vấn đề mở, độc lập tìm hiểu, tạo không gian cho các ý tưởng khác nhau.
1.4.6. Sử dụng bài BTHH để phát triển năng lực vận dụng kiến thức hóa học cho học sinh.
– Trong hoạt động dạy học, GV cho HS giải BTHH không chỉ là để tìm ra đáp án đúng mà BTHH còn là phương tiện khá hiệu quả trong việc rèn luyện tư duy hóa học cho HS. BTHH phong phú và đa dạng, để giải được BTHH cần phải vận dụng nhiều kiến thức cơ bản, sử dụng các thao tác tư duy so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, trừ tượng hóa… Qua đó HS thường xuyên rèn luyện được ý thức tự giác trong học tập, nâng cao khả năng hiểu biết của bản thân.
– Thông qua hoạt động giải BTHH sẽ giúp cho tư duy được rèn luyện và phát triển thường xuyên, dúng hướng, thấy được giá trị lao động, nâng khả năng hiểu biết thế giới của HS lên một tầm cao mới, góp phần cho hình thành nhân các toàn dện cho HS.
2. Cơ sở thực tiễn:
2.1 Lịch sử nghiên cứu
Hiện nay trên thị trường có rất nhiều đầu sách BTHH, tuy nhiên hầu hết các BT đều tập trung vào việc vận dụng các kiến thức để giải bài tập, nặng về tính toán và lý thuyết.
Cũng đã có nhiều đề tài nghiên cứu về phát triển NL của HS THPT, nhưng trong trường THPT Lê Lợi hay trên địa bàn huyện Tân Kỳ có ít đề tài nghiên cứu chuyên sâu về việc phát triển NLVDKT của HS qua nội dung dạy BTHH liên quan đến thực tiễn. Do đó tôi xác định việc lựa chọn đề tài của mình là cần thiết, phù hợp với yêu cầu chương trình GDPT mới sẽ triển khai vào năm học sau.
2.2. Thực trạng sử dụng BTHH có nội dung thực tiễn nhằm phát triển năng lực vận dụng kiến thức hóa học cho HS trường THPT trên địa bàn huyện Tân Kỳ.
2.2.1.Đối tượng nghiên cứu:
Giáo viên: tôi đã tiến hành tìm hiểu một số giáo viên đang giảng dạy môn Hóa học tại trường THPT Lê Lợi – Tân Kì.
Học sinh: Khảo sát 88 học sinh ở hai lớp 10A2 và 10A5 tại trường THPT Lê Lợi – Tân Kì.
2.2.2.Phương pháp và kết quả nghiên cứu:
Theo kết quả điều tra của nhiều GV khi đúc rút kinh nghiệm trong đổi mới PPDH trong nhiều năm qua cho thấy:
a. Đối với giáo viên:
Việc vận dụng các PPDH tích cực là điều rất cần thiết để nâng cao chất lượng giáo dục.Việc áp dụng câu hỏi, bài tập nội dung thực tiễn đã được áp dụng một số nơi nhưng hiệu quả khi thực hiện chưa cao. Đối với một số GV, việc sử dụng BTHH có nội dung thực tiễn chưa thường xuyên, do GV thường chú tâm đến kiến thức và kỹ năng cần nắm để phục vụ cho kiểm tra, thi cử.
Trong sách giáo khoa và sách bài tập, số lượng BTHH có nội dung thực tiễn là quá ít. Do đó việc sử dụng BTHH để phát triển NLVDKTHH hiện nay còn nhiều vấn đề bất cập, chưa phù hợp với xu hướng phát triển BTHH và cũng chưa phù hợp với đặc điểm của môn hóa là môn vừa lý thuyết vừa thực nghiệm.
b. Đối với học sinh:
Tại trường THPT LÊ LỢI hơn 80 % (9/11 lớp trên mỗi khối học) lựa chọn tổ hợp môn KHXH đều cho rằng môn hóa có nội dung khó nhớ, BTHH khó giải quyết . Hầu hết HS dành thời gian để làm BT trong SGK, SBT. Như vậy việc làm BTHH của HS chủ yếu là ôn luyện trên lớp, nên kiến thức thực tiễn tích lũy được rất ít và kém bền, thụ động và thiếu tự tin trong học tập.
Tuy nhiên khi điều tra vấn đề BTHH có nội dung thực tiễn thì HS có hứng thú cao với dạng bài tập này và hầu hết các em đều cho rằng BTHH như vậy phù hợp để ứng dụng vào môn Hóa học ở trường THPT.
2.2.3 Nguyên nhân:
Các HS khối 10 trường THPT Lê Lợi hiện nay không thường xuyên áp dụng các kiến thức đã học để giải quyết các vấn đề xảy ra trong thực tiễn, các em vẫn còn gặp khó khăn trong phương pháp, thiếu phương tiện kỹ thuật, cơ sở vật chất và đa số ý kiến cho rằng hệ thống bài tập để vận dụng kiến thức còn hạn chế. Vì thế khi
gặp bài tập liên quan thực tiễn các em còn lúng túng như: không biết sản phẩm trong thực tế đó được tạo nên từ chất nào, không nhận ra các quá trình biến đổi chất trong thực tế, chưa biết liên hệ kiến thức đã học với hiện tượng quan sát được, chưa biết cách diễn đạt nội dung như mong muốn. Ngoài ra cũng do trong các câu hỏi và bài trong đề thi TNTHPT còn chưa nhiều chưa đa dạng về BTHH liên quan thực tiễn nên các em thường ít quan tâm đến loại bài tập này.
CHƯƠNG 2: PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC VẬN DỤNG KIẾN THỨC HÓA HỌC CHO HỌC SINH THÔNG QUA HỆ THỐNG BÀI TẬP CÓ NỘI DUNG THỰC TIỄN PHẦN HÓA HỌC VÔ CƠ 10
Phân tích mục tiêu, nội dung, cấu trúc chương 5,6 – SGK hóa học 10 cơ bản.
1.1. Mục tiêu chương trình hóa học chương 5,6 – SGK hóa học 10 cơ bản.
1.1.1. Mục tiêu chương trình hóa học chương 5: Nhóm halogen – SGK hóa học 10 cơ bản.
+ Nêu được nhóm Halogen gồm những nguyên tố nào và chúng ở vị trí nào trong bảng HTTH.
+ Nêu được trạng thái tự nhiên của các nguyên tố halogen.
+ Mô tả được trạng thái, màu sắc, nhiệt độ nóng chảy, nhiệt độ sôi của các nguyên tố nhóm halogen.
+ Trình bày được xu hướng các halogen nhận thêm 1 electron ( từ kim loại) hoặc dùng chung electron ( với phi kim) để tạo hợp chất ion hoặc hợp chất cộng hóa trị dựa theo cấu hình electron.
+ Giải thích được xu hướng phản ứng của đơn chất halogen với hidro
+ Viết được phương trình hóa học của phản ứng thể hiện tính chất hóa học của đơn chất halogen và các hợp chất quan trọng của chúng.
+ Thực hiện được( hoặc quan sát video) một số thí nghiệm chứng minh tính oxi hóa mạnh của các halogen và so sánh tính oxi hóa của các halogen trong nhóm VIIA.
1.1.2. Mục tiêu chương trình hóa học chương 6: Oxi- lưu huỳnh – SGK hóa học 10 cơ bản.
+ Nêu được trạng thái tự nhiên của oxi, ozon, lưu huỳnh.
+ Mô tả được trạng thái, màu sắc của oxi, ozon, lưu huỳnh

 

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

Tiếng Anh
4.5/5
TÀI LIỆU WORD

100.000 

Theo dõi
Thông báo của
guest
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
Set your categories menu in Theme Settings -> Header -> Menu -> Mobile menu (categories)
Shopping cart

KẾT NỐI NGAY VỚI KIẾN EDU

Chúng tôi luôn sẵn sàng lắng nghe và đưa ra giải pháp phù hợp nhất cho vấn đề của bạn.

0886945229

Email

kienedu.com@gmail.com

Đây chỉ là bản XEM THỬ - khách hàng vui lòng chọn mua tài liệu và thanh toán để nhận bản đầy đủ

TẢI TÀI LIỆU

Bước 1: Chuyển phí tải tài liệu vào số tài khoản sau với nội dung: Mã tài liệu

Chủ TK: Ngô Thị Mai Lan

STK Agribank: 2904281013397 Copy
* (Nếu khách hàng sử dụng ngân hàng Agribank thì chuyển tiền vào STK Agribank để tránh bị lỗi treo giao dịch)
STK TPbank: 23665416789 Copy
tài khoản tpbank kienedu

Bước 2: Gửi ảnh chụp giao dịch vào Zalo kèm mã tài liệu để nhận tài liệu qua Zalo hoặc email

Nhắn tin tới Zalo Kiến Edu (nhấn vào đây để xác nhận và nhận tài liệu!)