SKKN Một số biện pháp tổ chức hoạt động khởi động giờ học tạo tạo hứng thú phát triển năng lực học sinh trong dạy học môn Vật lí lớp 10 (sách Kết nối tri thức và cuộc sống) ở trường THPT

Giá:
100.000 đ
Cấp học: THPT
Môn: Vật lí
Lớp: 10
Bộ sách: Kết nối tri thức với cuộc sống
Lượt xem: 460
File:
TÀI LIỆU WORD
Số trang:
53
Lượt tải:
5

Sáng kiến kinh nghiệm “SKKN Một số biện pháp tổ chức hoạt động khởi động giờ học tạo tạo hứng thú phát triển năng lực học sinh trong dạy học môn Vật lí lớp 10 (sách Kết nối tri thức và cuộc sống) ở trường THPT” triển khai các biện pháp như sau: 

3.1.Biện pháp 1: Khởi động bằng một hình ảnh, một đoạn video
3.2.Biện pháp 2: Khởi động bằng cách sử dụng thí nghiệm
3.3.Biện pháp 3: Sử dụng đồ dùng trực quan để khởi động
3.4.Biện pháp 4: Khởi động với một tình huống có vấn đề
3.5.Biện pháp 5: Sử dụng văn học để khởi động
3.6.Biện pháp 6: Khởi động dưới dạng tổ chức trò chơi

Mô tả sản phẩm

PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lí do chọn đề tài
Theo tinh thần của Nghị quyết số 29-NQ/TW, hiện nay dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh (HS) được đặt ra như một yêu cầu bức thiết. Nghị quyết khẳng định: Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kĩ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc (Ban Chấp hành Trung ương, 2013). Vì vậy, trong dạy học, giáo viên (GV) cần quan tâm đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) để người học có cơ hội tự cập nhật tri thức và phát triển năng lực bản thân.
Thông thường, mỗi bài học được thiết kế thành các hoạt động nối tiếp nhau, đó là: Hoạt động khởi động (HĐKĐ); Hoạt động hình thành kiến thức; Hoạt động luyện tập; Hoạt động vận dụng/tìm tòi, mở rộng.
Trước yêu cầu đổi mới PPDH hiện nay, tất yếu GV cần coi trọng HĐKĐ sao cho tạo được ấn tượng đầu tiên tốt đẹp nhất giúp HS chủ động, tự tin khám phá kiến thức.
Một hoạt động khởi động hiệu quả sẽ có tác dụng tích cực trong việc kích thích trí tò mò, khơi dậy hứng thú của học sinh, tạo tâm thế và định hướng nội dung học tập cho các em. Từ đó các em yêu thích môn học hơn, đồng thời chất lượng bộ môn được nâng cao hơn.
Từ những lí do trên cùng với kinh nghiệm mà tôi đã đúc kết được qua nhiều năm giảng dạy tại Trường THPT Hoàng Mai, Tôi xin mạnh dạn đưa ra một số kinh nghiệm mà mình đã tích lũy được trong quá trình giảng dạy và tôi chọn đề tài: “Một số biện pháp tổ chức hoạt động khởi động giờ học tạo tạo hứng thú phát triển năng lực học sinh trong dạy học môn Vật lí lớp 10 (sách Kết nối tri thức và cuộc sống) ở trường THPT” làm biện pháp nâng cao chất lượng dạy học bộ môn.
Trong thực tế giảng dạy phân môn Vật lí cấp trung học phổ thông nói chung, lớp 10 nói riêng, tôi nhận thấy phần lớn học sinh học khó khăn, thiếu hứng thú với tiết học. Nên dẫn đến nhiều em còn có thái độ chưa quan tâm, chưa chú ý vào bài học. Điều này đã gây ra ảnh hưởng không nhỏ đến việc nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn.
Thực tế nhiều giáo viên trong quá trình dạy học thường không tổ chức hoạt động khởi động vì nhiều lí do: lo lắng vì thời gian không đủ cho kiến thức bài dạy; không biết tổ chức như thế nào; sợ hoạt động gây ồn ảnh hưởng lớp học khác… Một số giáo viên có tổ chức hoạt động khởi động nhưng chưa hiệu quả (tổ chức trò chơi ít gắn với nội dung bài học, lựa chọn tình huống, vấn đề khởi động chưa sâu sắc,..)

Vì vậy, yêu cầu đặt ra là phải đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng dạy học môn Vật lý lớp 10 đồng thời nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện nói chung.
2. Mục đích nghiên cứu
Một hoạt động khởi động hiệu quả sẽ có tác dụng tích cực trong việc kích thích trí tò mò, khơi dậy hứng thú của học sinh, tạo tâm thế và định hướng nội dung học tập cho các em. Từ đó các em yêu thích môn học hơn, đồng thời chất lượng bộ môn được nâng cao hơn.
Việc tổ chức hoạt động khởi động cho học sinh trong học dạy phân môn Vật lý lớp 10 nhằm xây dựng một số biện pháp tổ chức hoạt động khởi động tạo hứng thú cho học sinh trong dạy phân môn Vật lý lớp 10 từ đó nâng cao chất lượng dạy học bộ môn.
3. Đối tượng nghiên cứu
– Hoạt động khởi động giờ học trong dạy học Vật lí 10 ở trường THPT.
– Học sinh lớp 10 (10A1 – 10A6), trường THPT Hoàng Mai
4. Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
– Trong thời gian hạn hẹp và phạm vi của sáng kiến này, đề tài chỉ giới hạn ở một số biện pháp tổ chức hoạt động khởi động giờ học môn Vật lý lớp 10 (sách KNTT).
– Tôi mong muốn đề tài thể hiện rõ một số hình thức tổ chức hoạt động khởi động trong giờ dạy Vật Lí có hiệu quả, tạo điều kiện thuận lợi cho việc giảng dạy bộ môn Vật Lí trong nhà trường THPT. Cũng qua đề tài này, tôi muốn cụ thể hoá một số hình thức tổ chức khởi động cho từng bài học cụ thể
5. Phương pháp nghiên cứu
– Phương pháp nghiên cứu lí luận: Nghiên cứu các tài liệu về các quan điểm, sự định hướng việc dạy và học tích cực cũng như đổi mới PPDH, tổ chức hoạt động khởi động giờ học, SGK, sách GV và các tài liệu khác liên quan.
– Phương pháp điều tra: Tìm hiểu việc dạy (thông qua nghiên cứu giáo án, dự giờ, trao đổi với GV) và việc học (thông qua trao đổi với HS, bài kiểm tra) nhằm sơ bộ đánh giá tình hình tổ chức hoạt động khởi động giờ học trong dạy học Vật lí lớp 10 ở trường THPT…
– Phương pháp TN khoa học giáo dục: Tiến hành TN sư phạm với tiến trình dạy học đã soạn thảo theo kế hoạch. Phân tích kết quả thu được trong quá trình TN sư phạm, đối chiếu với mục đích nghiên cứu và rút ra kết luận của đề tài.
– Phương pháp thống kê toán học: sử dụng những kĩ năng thống kê toán học để thống kê, đối chiếu so sánh kết quả khảo sát, kết quả kiểm tra chất lượng học tập trước và sau khi áp dụng sáng kiến.

6. Những luận điểm cần bảo vệ của sáng kiến
– Ở mỗi bài học, HĐKĐ chỉ chiếm khoảng vài phút đầu giờ, nhưng lại đóng vai trò rất quan trọng đối với việc phát triển tính tích cực học tập của HS.
Thứ nhất, một bài học với cách khởi động thú vị, hấp dẫn sẽ có tác dụng kích thích hứng thú học tập.
Thứ hai, HĐKĐ có tác dụng nối liền kiến thức cũ với kiến thức mới, tạo nền tảng cho việc thực hiện các nhiệm vụ học tập của bài học.
Thứ ba, HĐKĐ giúp tạo ra mâu thuẫn nhận thức cho người học.
Thứ tư, HĐKĐ giúp khái quát nội dung cơ bản của bài học, hướng sự suy nghĩ, tư duy của HS vào nội dung chính ngay từ đầu.
Như vậy, khởi động tốt của mỗi tiết học giúp HS hứng thú, hăng hái trong học tập, thuận lợi cho hoạt động hình thành kiến thức ở phần sau.
– Hoạt động KĐ trong giờ dạy có một vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tổ chức các hoạt động trên lớp giúp HS định hướng nội dung bài học, bước đầu giải quyết vấn đề đặt ra trong bài học nhưng nếu dạy theo phương pháp truyền thống thì HS sẽ tiếp cận kiến thức một cách máy móc, khô khan, thụ động. Vì thế nếu tổ chức tốt hoạt động Khởi động một cách đa dạng, linh hoạt thì sẽ tạo hứng thú học tập, giúp các em chủ động khám phá cái đẹp của khoa học, cảm xúc và giá trị tư tưởng của mỗi bài học, phát triển tốt các năng lực chung và năng lực đặc thù của bộ môn Vật Lí
– Các biện pháp tổ chức hoạt động khởi động giờ học trong dạy học Vật Lí 10 (Sách KNTT và CS):
Biện pháp 1: Khởi động bằng một hình ảnh, một đoạn video Biện pháp 2: Khởi động bằng cách sử dụng thí nghiệm.
Biện pháp 3: Sử dụng đồ dùng trực quan để khởi động Biện pháp 4: Khởi động với một tình huống có vấn đề Biện pháp 5: Sử dụng văn học để khởi động
Biện pháp 6: Khởi động dưới dạng tổ chức trò chơi
7. Đóng góp mới của đề tài
– Giải pháp được áp dụng từ đầu năm học 2022 – 2023 đến nay tại lớp 10 trường THPT. Việc thực hiện biện pháp này có nhiều điểm mới.
– Sách giáo khoa Vật lý lớp 10 mới được áp dụng từ năm học 2022-2023, cả giáo viên và học sinh có nhiều thuận lợi trong việc thực hiện bài học nhưng vì sách mới nên còn nhiều bỡ ngỡ. Việc xây dựng giải pháp tổ chức hoạt động khởi động giờ học trong dạy học Vật lý lớp 10 sách Kết nối tri thức và cuộc sống đã

góp phần giúp giáo viên có những biện pháp mới trong tổ chức khởi động giờ học hấp dẫn, hiệu quả.
– Với những biện pháp này đã thực sự tạo nên tính hấp dẫn trong khởi động giờ học, góp phần đổi mới PHDH, nâng cao hiệu quả dạy học bộ môn.
– Các biện pháp đã giúp cho GV tránh được lối mòn trong tư duy giảng dạy 1 chiều; giúp học sinh định hướng được tốt hơn trong việc tiếp cận bài học. Luôn có ý thức tự làm mới mình, làm chủ nội dung, phương pháp, cách thức tổ chức dạy học giúp HS chủ động, tích cực, sáng tạo trong tiếp cận nội dung bài học từ đó có ý thức giải quyết vấn đề bằng nhiều hình thức khác nhau.

PHẦN 2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
1. CƠ SƠ LÝ LUẬN
1.1. Khái niệm quá trình dạy học
Quá trình dạy và học được hiểu là sự tác động qua lại giữa GV và HS có chủ đích được thay đổi một cách có trình tự nhằm thực hiện các nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục cộng sản chủ nghĩa và phát triển nhân cách cho HS; là chuỗi liên tiếp các hành động của người dạy và người học đan xen và tương tác với nhau trong khoảng không gian và thời gian nhất định, nhằm thực hiện các nhiệm vụ dạy học.
Quá trình dạy và học là một quá trình toàn vẹn bao gồm 3 thành phần không thể thiếu và có quan hệ mật thiết với nhau đó là: môn học, việc dạy và việc học.
Trong nhà trường hoạt động dạy học luôn giữ vị trí trọng tâm bởi nó chiếm hầu hết thời gian, khối lượng công việc của nhà trường. Nó mang tính quyết định đến việc thực hiện mục tiêu của năm học.
Hoạt động dạy học được diễn ra theo một quá trình nhất định được gọi là quá trình dạy học. Quá trình dạy học bao gồm hoạt động dạy của người thầy và hoạt động học của trò. Đây là toàn bộ hoạt động của GV và HS do GV hướng dẫn nhằm giúp HS nắm vững hệ thống kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và từ đó trò được phát triển năng lực nhận thức, năng lực hành động, hình thành cơ sở thế giới quan khoa học.
Như vậy hoạt động dạy học có sự gia công sư phạm của GV để giúp HS nắm nhanh chóng và hiệu quả những tri thức cần đạt được. Tuy nhiên chất lượng của hoạt động dạy học phụ thuộc vào chính hoạt động học của học trò, mọi tác động của người dạy chỉ là tác động bên ngoài. Những nhân tố trong cấu trúc của hoạt động dạy học tồn tại trong mối quan hệ qua lại thống nhất với nhau.
Hoạt động dạy học bao gồm hoạt động dạy của GV và hoạt động học của HS và có sự thống nhất biện chứng với nhau, được thực hiện trong nhà trường bằng sự tương tác có tính xã hội và hợp tác giữa dạy và học.
Dạy là công việc của GV bao gồm các hoạt động như: tổ chức, thiết kế, chỉ đạo, điều khiển việc lĩnh hội kiến thức, hình thành hệ thống kỹ năng, kỹ xảo, hướng dẫn HS cách thức, phương pháp tiếp thu, lĩnh hội kiến thức. Bản chất của công việc dạy của GV là quá trình tổ chức cho HS nhận thức, là quá trình giúp HS chiếm lĩnh tri thức, hình thành và phát triển nhân cách toàn vẹn cho HS. Muốn dạy tốt thì GV phải xuất phát từ khái niệm khoa học, xây dựng quy trình dạy học và tổ chức tối ưu các hoạt động dạy và học, thực hiện hoạt động dạy và học đảm bảo được tính liên hệ ngược thường xuyên và bền vững.
Học là hoạt động học tập của HS nhằm thu nhận tri thức, bản chất của hoạt động học là quá trình lĩnh hội tri thức một cách chủ động, sáng tạo và tích cực dưới sự hướng dẫn của người thầy.

Thực chất bản chất của quá trình dạy học là quá trình nhận thức độc đáo của HS, và cũng được diễn ra theo quy luật nhận thức chung của loài người từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn, đó là con đường biện chứng của nhận thức chân lý. Vì vậy, những yếu tố trực quan như các sự vật, hiện tượng có thật hoặc các mô hình, tranh vẽ lời nói giàu hình tượng cả GV giúp HS xây dựng được những biểu tượng về chúng, đó là những tài liệu cảm tính, từ những điều đó và thao tác tư duy của HS mà giúp HS hình thành được các khái niệm khoa học.
1.2. Một số vấn đề về khởi động
a. Khái niệm
Theo từ điển tiếng Việt, Khởi động được hiểu là “thực hiện những động tác nhẹ trước khi bắt đầu”. Như vậy hoạt động khởi động được hiểu là một hoạt động nhằm thực hiện những thao tác cơ bản, nhẹ nhàng trước khi bắt đầu thực hiện một công việc cụ thể nào đó.
b. Một số vấn đề chung về hoạt động khởi động giờ dạy
* Yêu cầu của hoạt động khởi động giờ dạy
– Giáo viên hoặc học sinh thực hiện cần có sự đầu tư về trí tuệ, công sức, thời gian.
– Ngắn gọn về thời lượng (2 đến 5 phút).
– Tạo được không khí vui vẻ, thoải mái trong lớp học; tạo sự thân thiện thầy và trò.
– Có tính hấp dẫn, gây được sự sôi nổi, hào hứng, kích thích được sự hứng thú, tò mò hay tâm lý thi đua, thích khen thưởng của học sinh.
– Gợi được vấn đề của bài học.
– Học sinh chỉ có thể phán đoán một phần mà chưa thể dùng tri thức cũ vấn đề, buộc phải chú ý bài học mới có thể khám phá điều muốn biết.
* Đặc điểm của hoạt động khởi động
– Hoạt động khởi động là một hoạt động đầu tiên nằm trong chuỗi hoạt động học tập bởi vậy: hoạt động khởi động chính là hoạt động tạo nền móng, đạp để các hoạt động sau được diễn ra hiệu quả.
– Nhiệm vụ học tập trong hoạt động khởi động cần đảm bảo học sinh thể giải quyết trọn vẹn với kiến thức – kỹ năng cũ mà cần phải học thêm kiến thức mới trong các hoạt động hình thành kiến thức và luyện tập.
– Hoạt động khởi động diễn ra nhanh chóng trong một thời gian chỉ tối đa là 5 phút sau khi ổn định tổ chức và trước khi vào bài, nếu lâu hơn sẽ bất lợi.
* Phân loại hoạt động khởi động

Có rất nhiều cách phân loại dựa trên những tiêu chí khác nhau:
– Xét về hình thức: có hoạt động động và hoạt động tĩnh. Hoạt động động là những hoạt động thiên về vận động thể chất, các nhóm cơ. Ví dụ các trò tuệ kết hợp tay chân, các giác quan: hát, vẽ tranh, ghép tranh, ngâm chuyện, … Hoạt động tĩnh thiên về vận động trí não như: thảo luận theo giải ô chữ, hùng biện, phân tích sơ đồ tư duy, câu hỏi nêu vấn đề, …
– Xét về đối tượng thực hiện: Hoạt động khởi động có thể được thực hiện bởi giáo viên: lời dẫn gián tiếp, trích dẫn ý kiến hay danh ngôn, câu hỏi gợi liên hệ thực tế, … Bên cạnh đó là những hoạt động được thực hiện bởi học sinh: các trò chơi, các phần thi nhỏ, vẽ tranh minh họa,…
Sự phân loại trên có tính chất tương đối. Trên thực tế giảng dạy không có hoạt động nào dành riêng biệt cho từng đối tượng. Hoạt động của người dạy và học sinh có tính chất luân phiên. Giáo viên đưa ra ý tưởng, yêu cầu và học sinh thực hiện, sau đó giáo viện nhận xét, đánh giá, chốt vấn đề.
* Quy trình thiết kế hoạt động khởi động:
– Nghiên cứu kỹ bài học, đặc biệt là tư tưởng cốt lõi của kiến thức để tìm ra nội dung của hoạt động cho phù hợp.
– Xác định đối tượng thực hiện chủ đạo: giáo viên hay học sinh.
– Xác định hình thức hoạt động: tĩnh hay động.
– Xác định các phương tiện hỗ trợ (tranh ảnh, mô hình, máy chiếu, thí nghiệm …).
– Nếu do học sinh thực hiện thì phải có nhận xét, đánh giá. Đối với mỗi kiểu bài, mỗi bài học cụ thể, hoạt động khởi động sẽ khác nhau. Không có kiểu khởi động nào là tối ưu nhất, phải khởi động lồng ghép nhiều hình thức để hỗ trợ nhau trong các bài dạy. Bí quyết thành công là sự tìm tòi, sáng tạo và đa dạng hóa của giáo viên.
* Mục đích của hoạt động khởi động
Hoạt động khởi động nhằm hướng tới mục đích là học sinh tích cực, chủ động chiếm lĩnh tri thức:
– Thu hút sự chú ý ngay từ đầu giờ học, tránh sự mất tập trung, xao nhã xộn, mất thời gian.
– Khơi mạch nguồn cảm hứng cho người học; đánh thức năm giác quan.
– Dẫn dắt học sinh vào “bầu không khí khoa học”. Hoạt động khởi động là cây cầu đưa người học vào bầu không khí đó.
– Tạo “thử thách”, tạo “tình huống” để học sinh buộc phải bị “vấp” tư duy. Từ đó kích thích nhu cầu tò mò, kích thích khả năng chinh phục tri thức của các em. Đây là mục đích quan trọng nhất. Tư duy vận động tri thức mới có lối vào.

Hoạt động khởi động không tạo được tình huống vấn đề chưa phải là một hoạt động thuyết phục và có tính khoa học.
1.3. Hứng thú và vai trò của hứng thú trong học tập
a. Khái niệm hứng thú
Hứng thú là một thuộc tính tâm lý của nhân cách, là một hiện tượng tâm lý phức tạp được thể hiện phổ biến trong cuộc sống của mỗi cá nhân. Hứng thú là thái độ đặc biệt của cá nhân con người với đối tượng nào đó, vừa có ý nghĩa đối với cuộc sống, vừa có khả năng mang lại khoái cảm cho cá nhân trong quá trình hoạt động.
Khi con người có hứng thú về điều gì đó, thì cái đó bao giờ cũng được con người ý thức, ta hiểu ý nghĩa của nó đối với cuộc sống của ta. Khi đó xuất hiện ở bản thân mình một tình cảm đặc biệt đối với nó, do đó hứng thú lôi cuốn hấp dẫn chúng ta về phía đối tượng và cũng tạo ra tâm lý khát khao tiếp xúc đi sâu vào nó. Hứng thú là một thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng, thể hiện ở sự chú ý tới đối tượng, khao khát đi sâu nhận thức đối tượng trong sự thích thú được thỏa mãn với đối tượng.
b. Đặc điểm của hứng thú
Bình thường con người chỉ hứng thú với những cái mới, chưa được khám phá. Còn những điều đã biết nếu không biết cách đưa nó vào một vị trí khác, thổi vào thêm một điều mới lạ, tích cực hơn thì sẽ không tạo được hứng thú. Tuy nhiên thực tế cho thấy không phải cái mới nào cũng tạo được hứng thú. Chỉ khi nào con người thấy được cái mới, cái phong phú, tính sáng tạo và triển vọng trong hoạt động của mình thì mới có thể hình thành những hứng thú vững chắc được.
Hứng thú của mỗi cá nhân hoàn toàn phụ thuộc vào khả năng lĩnh hội tri thức ttrong thời đại đó.
Hứng thú phụ thuộc vào đặc điểm của đối tượng và phẩm chất nhân cách. Nghĩa là sự liên hệ qua lại giữa chủ thể và khách thể, giữa yêu cầu của đối tượng với yêu cầu của chủ thể tồn tại ở mức độ tương ứng. Mối quan hệ này có ý nghĩa quan trọng trong việc hình thành những hứng thú ở từng người, từng lứa tuổi. Ví dụ, nếu đối tượng gây cảm xúc cho HS tiểu học chủ yếu là những sự vật, hình ảnh… cụ thể, thì hứng thú của HS THPT đa dạng và rộng hơn, HS THPT có thể hứng thú với khoa học kỹ thuật, thể thao, chính trị – xã hội. Hứng thú sẽ luôn bền vững và phong phú nếu nó thường xuyên thức tỉnh sự chú ý và ý nghĩa của mỗi cá nhân và ngược lại tính hay thay đổi hứng thú sẽ nói lên phong cách sống chưa được xác định của một người nào đó.
c. Sự hình thành hứng thú
Sự hình thành hứng thú có thể được diễn ra theo 2 con đường: tự phát và tự
giác.

Có thể bắt đầu từ sự hấp dẫn của đối tượng làm nảy sinh thái độ cảm xúc tích cực của chủ thể. Do những cảm xúc này mà chủ thể đi sâu nhận thức đối tượng, hiểu rõ đối tượng mà hình thành hứng thú. Ngược lại, có thể bắt đầu từ việc hiểu rõ tầm quan trọng của đối tượng mà đi sâu nhận thức đối tượng đó, và càng hiểu rõ đối tượng càng cảm thấy hứng thú. Theo nhận xét của A.G. Côvaliôp “Hứng thú có thể được hình thành một cách tự phát vì không có ý thức, do sự vật hấp dẫn về tình cảm, sau đó mới dẫn đến nhận thức của đối tượng đó. Quá trình hình thành hứng thú có thể theo hướng ngược lại. Từ chỗ có ý thức về ý nghĩa của đối tượng dẫn đến chỗ bị đối tượng hấp dẫn”. Trong hứng thú luôn có sự kết hợp giữa nhận thức, xúc cảm để dẫn đến tính tích cực của hành vi là quá trình vận động và phát triển của hứng thú.

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

10,12
VẬT LÍ
4.5/5
TÀI LIỆU WORD

100.000 

Theo dõi
Thông báo của
guest
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
Set your categories menu in Theme Settings -> Header -> Menu -> Mobile menu (categories)
Shopping cart

KẾT NỐI NGAY VỚI KIẾN EDU

Chúng tôi luôn sẵn sàng lắng nghe và đưa ra giải pháp phù hợp nhất cho vấn đề của bạn.

0886945229

Email

kienedu.com@gmail.com

Đây chỉ là bản XEM THỬ - khách hàng vui lòng chọn mua tài liệu và thanh toán để nhận bản đầy đủ

TẢI TÀI LIỆU

Bước 1: Chuyển phí tải tài liệu vào số tài khoản sau với nội dung: Mã tài liệu

Chủ TK: Ngô Thị Mai Lan

STK Agribank: 2904281013397 Copy
* (Nếu khách hàng sử dụng ngân hàng Agribank thì chuyển tiền vào STK Agribank để tránh bị lỗi treo giao dịch)
STK TPbank: 23665416789 Copy
tài khoản tpbank kienedu

Bước 2: Gửi ảnh chụp giao dịch vào Zalo kèm mã tài liệu để nhận tài liệu qua Zalo hoặc email

Nhắn tin tới Zalo Kiến Edu (nhấn vào đây để xác nhận và nhận tài liệu!)